
Gần 40 năm trước, khi còn là cậu bé cấp 2, hằng ngày đi trên con đường làng đầy bụi đến trường, tôi rất hay gặp một cặp vợ chồng Tây. Chính xác hơn, thì ông chồng là một ông Việt kiều to lớn và đẹp trai, còn bà vợ, người Pháp, nhỏ nhắn, có lẽ cũng rất đẹp gái vào thời điểm đó (năm 1989).
Sau này (năm 2020), tôi mới biết, họ là những nhà nghiên cứu tiếng tăm - ông Nguyễn Tùng và bà Nelly Krowolski, tác giả cuốn sách nổi tiếng Làng mạc ở châu thổ sông Hồng, trong đó khảo tả làng Mông Phụ (thuộc làng cổ Đường Lâm) của chúng tôi. Ông Nguyễn Tùng còn chủ biên cuốn sách Mông Phụ, một làng ở châu thổ sông Hồng.
Tuổi thơ tôi đã vô tình chứng kiến những lát cắt trong các cuộc “điền dã” của họ về Đường Lâm. Chỉ riêng những lần họ đến thăm thú nhà tôi thôi đã lên tới hàng chục cuộc, trò chuyện với bố tôi như những người bạn thân, chụp cho chúng tôi những bức ảnh tuổi thơ mà bây giờ trở nên vô giá. Chắc chắn, chúng tôi chính là những “đối tượng nghiên cứu” của ông ngày đó. Hầu như, mọi người đều không thể tin được ở ngôi làng này còn có thể có một cái gì đó đáng giá, để ông bà Tây này lọ mọ đến hỏi han, tìm hiểu.
40 năm trước, chưa nói tôi còn quá bé, mà cả những người lớn quanh tôi đều coi những thứ mà bây giờ ta gọi là di sản, báu vật là những thứ… viển vông.
* * *
Ông nội tôi có một ngôi nhà cổ, vài trăm năm tuổi, tôi từng ở đó suốt tuổi thơ, nhưng chỉ thấy nó rất tối với nhiều hoành phi, câu đối cùng các bộ đồ trang trí bàn thờ nâu bóng rất đáng sợ. Còn bố tôi kế tục dòng họ làm nghề thuốc. Nghề thuốc, với chúng tôi ngày đó, tuyệt đối không phải là “thần y” gì mà chỉ là nghề “kiếm cơm” thôi. Và thật không may, cái cần câu cơm đó ngày càng kém đi, vì người dân đã có trạm xá, bệnh viện rồi.
Thực tình mà nói, tôi vẫn không ít lần ngạc nhiên và… bật cười khi nghe ai đó xuýt xoa về những thứ ở làng cổ, những thứ vốn đã quá quen thuộc với tôi, đến mức nhàm chán.
Có lần, nghe bà tiến sĩ Ngô Thị Kiều Oanh ca ngợi đá ong xây nhà ở làng tôi như một thứ chất liệu thần kỳ: mùa Đông ấm, mùa Hè mát, trong đầu tôi, nảy ngay ra hình ảnh cái bờ tường đá ong lở lói ở nhà mình. Bố tôi ngày đó không có tiền, thay vì mua gạch chín về xây nhà, thì gọi thợ đến đào tung cả vườn lên, sâu như cái ao, để khai thác đá ong bên dưới. Đá ong rất nặng, phải để rất lâu trên mặt đất thì mới cứng lại. Tuy thế, độ cứng trên bề mặt không đều, nó vẫn bị mủn ra thứ bột đất sét màu vàng vàng. Để tạo ra bức tường đá ong lỗ chỗ, nâu bóng cho chị em check-in, bức tường phải trơ gan cùng tuế nguyệt hàng thập kỷ.
Trong hàng thập kỷ đó, người ở trong căn nhà chẳng sung sướng gì với bức tường có thể cạy ra bột đất sét kia. Tôi không thể nào quên được cảm giác thót tim khi trèo lên những bờ tường đá ong lở lói, nghiêng như tháp Pisa…, mà trẻ con muốn qua nhà nhau chơi hoặc sang ngõ khác thì không thể bỏ được thói quen trèo tường, đi tắt cho nhanh. Suốt tuổi thơ, tôi chỉ ước ao có được căn nhà và bờ tường bao quanh vườn bằng… gạch ba banh, thứ gạch đóng từ xỉ than, nhưng vuông vức, phẳng phiu và trèo lên thoải mái.
Khác với nhiều làng quê khác, ở làng cổ Đường Lâm từ cả trăm năm nay đều xây bờ tường bằng gạch, đá, tạo nên những đường ngõ quanh co - một cảnh quan rất chi là “ngõ nhỏ, phố nhỏ” của phố cổ Hà Nội. Điều đó cũng không khó lý giải: Đất Đường Lâm rất chật, mỗi nhà chỉ có vài trăm mét vuông, việc xây tường bao quanh là phương án không quá tốn kém.
Hơn nữa, tôi nghĩ, đó còn là một truyền thống, bởi Đường Lâm xưa vốn là thủ phủ của tỉnh Sơn Tây từ thời Lê - sau đó mới chuyển về thành phố Sơn Tây (nay là phường Sơn Tây) cùng một toà Thành cổ Sơn Tây đồ sộ. Đường Lâm có tính chất của một “đô thị tỉnh lỵ” một thời, mà dấu tích để lại là sự tập trung rất nhiều những thiết chế văn hoá cổ, trong đó có lối quy hoạch nhà cửa, đường xá. Ngôi làng cổ còn có sức hấp dẫn của một “đô thị cổ”.

Vào một đêm khuya khoảng đầu năm 2000, tôi có dẫn vợ chồng nhạc sĩ Dương Thụ đi thăm làng cổ, lúc đó hầu như chưa có khách du lịch, cũng không có dịch vụ gì. Đường làng tối om. Khi chúng tôi đi xuống con dốc từ đình ra cổng làng, nhạc sĩ Dương Thụ chỉ vào một cái cổng bảo: “Kìa, đẹp chưa, lấm tấm như những vì sao”. Nhìn theo tay ông chỉ và khi hiểu ra, tôi cười sằng sặc. “Bầu trời đầy sao” mà nhạc sĩ nhìn thấy chỉ là cái cổng gỗ lâu đời, bị xuyên thủng lỗ chỗ (chắc hẳn do mọt đục) khiến ánh đèn điện từ trong nhà hắt xuyên qua…
Trong con mắt tôi bấy giờ thì đó chỉ là cái cổng cũ của nhà… chị Dậu được phóng chiếu qua trí tưởng tượng của một nhạc sĩ tài ba. Nhạc sĩ Dương Thụ bèn bảo bố tôi: “Thằng này nó cười vì nó không hiểu, nhưng sau này nó sẽ hiểu thôi”.
Đúng là sau này, tôi cũng đã hiểu hơn một chút. Có thể cái cổng cũ đó cũng chỉ là cái cổng mọt đục thôi, nhưng nó cũng có một vẻ đẹp riêng, khi chứa đựng thời gian, và nhất là khi, chúng ta trải nghiệm nó trong tĩnh lặng. Và giá trị của cái cổng, cuối cùng tôi cũng biết đến khi, năm đó, hoạ sĩ, nhà nghiên cứu Phan Cẩm Thượng có nhờ tôi chụp bộ ảnh về cái “quay cổng” ở Đường Lâm để làm tài liệu gì đó.
Vị học giả chuyên nghiên cứu về “Văn minh vật chất của người Việt” này có thể nhìn thấy dấu ấn của văn hoá, văn minh trong mọi đồ vật thường ngày. Dù được đi khá nhiều nơi và cũng rất hay để ý nhưng tôi chưa thấy nơi nào có cái “quay cổng” như quê mình. Ngày nay với cổng sắt, ta có thể dễ dàng làm then trong hay then ngoài, để người ra, vào có thể thò tay xuyên qua lỗ cửa để đóng then. Nhưng với cổng gỗ liền tấm kiểu ngày xưa thì rất khó.
Người Đường Lâm từ xưa đã dùng “quay cửa” để khi ra vào có thể tự đóng mở cửa. Bằng cách: nối then cửa ở bên trong với một núm vặn ở bên ngoài. Khi đi ra ngoài, muốn đóng cửa lại (từ bên ngoài) thì chỉ việc xoay núm vặn, then cửa ở bên trong sẽ xoay vào lẫy, khiến cửa đóng chặt. Còn khi về nhà, muốn mở cửa thì chỉ việc xoay núm vặn theo chiều ngược lại, then cửa sẽ nhả ra khỏi lẫy.
***
Ngày nay, đã có quá nhiều các bài viết, status, ảnh, clip… về làng cổ Đường Lâm. Cuối tuần, làng đông nghịt khách.
Nhiều dịch vụ đã được mở ra, còn có những thứ quà bánh rất bình thường bỗng chốc được ưa chuộng như những đặc sản: chè lam, bánh đa, bánh sắn, kẹo bột, đậu xanh. Rồi thịt quay đòn, gà Mía. Những lễ hội bình thường ở làng đã thành di sản văn hoá phi vật thể. Đình làng cũng hát ca trù, hát văn. Chùa Mía, lăng Ngô Quyền, đền Phùng Hưng… là các di tích quan trọng. Những ngôi nhà cổ, trong đó có nhà ông nội tôi, trở thành địa chỉ bảo tồn, nghiên cứu… Nhiều người thích đá ong, xây nhà, bờ tường toàn bằng thứ đá “Đông ấm, Hè mát” này.
Những cái đó, mọi người đều thấy. Nhưng với tôi, nó là chuyển biến rất quan trọng mà hơn nửa đời người mới nhận ra: có những thứ vì quá quen nên mình tưởng là bình thường, thậm chí tầm thường, trong khi bên trong chúng quả thực ẩn chứa những giá trị độc đáo. Ở đây không phải là chuyện triết lý “đi bốn phương để thấy quê mình đẹp nhất”, mà là một câu chuyện nghiêm túc về khoa học bảo tồn và phát huy “kinh tế di sản”.
Từ câu chuyện Đường Lâm, tôi nghĩ cần nhận diện một cách toàn diện và chỉnh thể tất cả các giá trị vật thể và phi vật thể của các đơn vị làng xã, đô thị của chúng ta, để xác định bản sắc và định hướng phát triển cho chúng. Việc này, trước hết là vì mục tiêu xây dựng những không gian sống chất lượng, nhân văn cho bà con địa phương; và sau đó là để bảo tồn và khai thác, phát triển du lịch.

Tôi cho rằng, cách bảo tồn và phát huy di sản theo kiểu công nhận từng di tích, thắng cảnh đơn lẻ là rất cần thiết, nhưng chưa đầy đủ. Cần tư duy về từng không gian sống như một chỉnh thể - những “miền quê đáng sống” hay những “đô thị đáng sống”. Du khách đi thăm một vài di tích nổi tiếng, nhưng để có được một trải nghiệm đầy đủ thì phải cho họ hoà cùng cuộc sống của cộng đồng quanh di tích đó. Chỉ khi có những “miền quê đáng sống” hay những “đô thị đáng sống” thì kinh tế di sản mới cất cánh được.
Tôi vẫn còn một món nợ di sản với làng cổ Đường Lâm, là duy trì và phát triển nghề thuốc Bắc gia truyền của dòng họ nhà tôi - dòng họ duy nhất của làng có nghề này. Xứng đáng được bảo tồn quá đi chứ nhỉ?
Và sau mấy chục năm rời quê, có nằm mơ tôi cũng không thể hình dung có ngày, tôi trở về ngôi nhà tuổi thơ, cuối một ngõ nhỏ, trong một ngôi làng nhỏ, ngồi uống trà dưới gốc cây hồng xiêm, lại có thể chứng kiến từng đoàn du khách thập phương, cả tây lẫn ta, rầm rập đi ngang qua cổng để vào thăm… nhà cổ của ông nội.
Kinh tế du lịch, kinh tế di sản khiến cho, cuối cùng tất cả chúng ta lại có thể gặp nhau, vì trong đoàn khách đó, thỉnh thoảng lại có những người bạn tôi từ ở một phương trời rất xa, tình cờ đi du lịch… qua ngõ nhỏ nhà tôi!
Nguyễn Mỹ
