Các kiến trúc sư của Công ty TTT thảo luận về mẫu thiết kế trên máy tính - Ảnh: C.N
Lợi ích lớn trên những bản phần mềm chính hãng
Từ sự “sĩ diện”
Là một công ty có hơn 15 năm kinh nghiệm về kiến trúc và thiết kế nội thất tại TP.HCM, thực hiện trên 1.500 dự án thiết kế văn phòng cho các khách hàng trong và ngoài nước, KTS. Trần Minh Tâm, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty TTT khẳng định: chìa khóa để công ty vươn lên chính là nhờ ứng dụng CNTT. Các kỹ sư của TTT rất đam mê nghiên cứu giải pháp phần mềm và tìm cách đưa những giải pháp này vào hoạt động kinh doanh, từ các ứng dụng liên quan trực tiếp đến thiết kế xây dựng như AutoCad, Revit, 3Dmax… của Autodesk; đến những giải pháp quản lý dự án như MS Project, làm việc cộng tác như Exchange, cơ sở dữ liệu như SQL server của Microsoft…
Từ nhiều năm trước, ban lãnh đạo TTT đã mạnh dạn dành một khoản ngân sách mua giải pháp phần mềm có bản quyền.
Khi biết TTT bỏ tiền mua phần mềm có bản quyền, đầu tiên là phần mềm của Microsoft, rồi đến giải pháp quản trị nguồn lực doanh nghiệp (ERP) của Intuitive và hơn 3 năm về trước là toàn bộ sản phẩm Autodesk, nhiều người trong giới kiến trúc thắc mắc: Tại sao phải trả nhiều tiền thế trong khi có thể kiếm phần mềm bẻ khóa chỉ vài ngàn đồng? Tăng thêm chi phí đầu vào như vậy thì làm sao cạnh tranh được với các đối thủ dùng đồ “lậu”? KTS Trần Minh Tâm tâm sự: “Yếu tố đầu tiên khiến chúng tôi quyết định sử dụng phần mềm hợp pháp xuất phát từ những uẩn ức nghề nghiệp. Không ít lần ấm ức khi thấy mẫu thiết kế của mình bị “chôm chỉa” đưa vào các dự án khác, TTT rất mong muốn những tác phẩm kiến trúc là sở hữu trí tuệ của mình được tôn trọng. Thế nên, chúng tôi nỗ lực để minh chứng rằng mình tôn trọng sở hữu trí tuệ của người khác”.
Đồng quan điểm này, ông Nguyễn Khôi, Giám đốc điều hành Công ty kiến trúc TTT - một công ty con của TTT - chia sẻ: “Dưới góc độ một công ty thiết kế với công việc chính là sáng tạo ra những sản phẩm trí tuệ nên chúng tôi hiểu rằng tôn trọng và tuân thủ quyền sở hữu trí tuệ là việc cần làm”.
“Vào thời điểm chưa gia nhập WTO và công tác kiểm tra phần mềm bản quyền không gắt gao như bây giờ thì việc TTT bỏ tiền ra mua phần mềm có bản quyền chủ yếu để thỏa cái “sĩ” về sở hữu trí tuệ”, KTS Trần Minh Tâm kể. Nhưng khi đã trở thành khách hàng “danh chính ngôn thuận”, các kiến trúc sư của TTT mới phát hiện ra thêm những điều thú vị.
“Chính danh” nên nhiều cái “sướng”
Nghiên cứu kỹ thị trường, ban lãnh đạo TTT đã quyết định chọn mua phần mềm thiết kế của Autodesk - những phần mềm được các công ty thiết kế và kiến trúc sư sử dụng khá rộng rãi tại Việt Nam. Lợi ích đầu tiên mà các “chàng kiến” (kiến trúc sư) của TTT nhận được là phiên bản mới của phần mềm được cập nhật liên tục. “Đối với một đội ngũ ham tìm tòi “đồ chơi” mới như TTT thì việc liên tục được cập nhật phần mềm phải nói là “quá đã”!”, KTS Trần Minh Tâm đánh giá. Cũng là người mua phần mềm “chính danh” nên thay vì chỉ đóng cửa trong nhà tự mày mò nghiên cứu với nhau, các “chàng kiến” của TTT giờ bí chỗ nào không mò ra được thì lại “níu áo” đội ngũ hỗ trợ kỹ thuật của hãng bán phần mềm để hỏi cho đến nơi đến chốn.
Ở một góc độ khác, ông Nguyễn Khôi cho biết: So với vẽ tay, việc dùng phần mềm thiết kế của Autodesk nói riêng đã tiết kiệm được rất nhiều thời gian, nhất là các hồ sơ cần chỉnh sửa hoặc thay đổi thiết kế. Có thể thời gian đầu, kiến trúc sư mất nhiều thời gian để xây dựng thư viện, quy định thể hiện thống nhất cho toàn công ty nhưng sau đó thì mọi việc trở nên nhanh chóng hơn nhiều. Ngoài ra, số hóa bản vẽ giúp cho công tác lưu trữ, truy cập tiện lợi và nhanh chóng hơn khi công trình cần cải tạo, sửa chữa.
“Đối với các đơn vị thiết kế chứ không riêng TTT, nhà thiết kế chính là người sáng tạo ra các ý đồ, nắm bắt kỹ thuật, tiêu chuẩn thiết kế để đưa vào tác phẩm của họ và các sản phẩm như của Autodesk giúp cho đội ngũ này có thể kiểm tra ngay thiết kế của mình về không gian, hiệu ứng ánh sáng, vật liệu, các số liệu thiết kế ngay trên bản vẽ để chọn ra giải pháp tối ưu nhất”, ông Nguyễn Khôi nhận xét.
Trước khi mua bản quyền, TTT cũng có tiền sử “xài chùa” phần mềm. Chính nhờ thế, các kiến trúc sư có điều kiện để so sánh giữa phần mềm “lậu” và phần mềm có bản quyền. “Các bản phần mềm chính thức chạy ổn định hơn hẳn bản bẻ khóa lậu ở ngoài chợ. Ở thời buổi mà khách hàng luôn muốn “dí” tiến độ mà thỉnh thoảng máy tính “treo” thì thật “chịu không nổi”, với phần mềm chính thức chuyện này ít xảy ra hơn”, KTS Trần Minh Tâm nhận định.
Những ưu thế lớn mà phần mềm có bản quyền mang lại đã thuyết phục ban lãnh đạo của Công ty TTT liên tục đầu tư, trang bị các giải pháp phần mềm thiết kế tiên tiến như Autodesk-AutoCAD, 3D Max, Revit, BIM hay ERP, CRM...
Khó khăn và những sự khác biệt
Phần mềm có bản quyền mang lại những lợi ích tạo nên sự khác biệt trong cạnh tranh nhưng các kiến trúc sư của TTT cũng thừa nhận là chi phí cho những phần mềm thiết kế như Autodesk còn cao so với điều kiện kinh tế của doanh nghiệp Việt Nam và ít nhiều làm tăng giá thành sản phẩm của những doanh nghiệp mua bản quyền. “Hơn nữa, việc chưa có chương trình đào tạo chính thống và chuyên sâu từ Autodesk cũng gây trở ngại cho các công ty khi triển khai áp dụng sản phẩm mới”, ông Nguyễn Khôi cho biết.
Cũng theo ông Khôi, sự khác biệt về kỹ thuật thi công, chi tiết cấu tạo, tiêu chuẩn thể hiện của Việt Nam so với các tiêu chuẩn Anh, Mỹ cũng tạo ra một số trở ngại, nhất là khi sử dụng những sản phẩm thiết kế hệ BIM (Building Information Model). Mặt khác, những phần mềm thiết kế hệ BIM còn ít doanh nghiệp sử dụng nên khi triển khai sẽ không đạt tới hiệu quả tối đa vì khó tìm được đơn vị cùng hợp tác thiết kế đủ các hạng mục (MEP, structure) trên hệ BIM. Do đó, tới giai đoạn triển khai kỹ thuật các kiến trúc sư lại phải quay lại với phương pháp vẽ cũ.
Dẫu sao, các khó khăn trên cũng không thể làm lu mờ những thành công mà TTT đã đạt được nhờ sớm nhận thức được vai trò của việc ứng dụng các giải pháp phần mềm “chính danh” trong hoạt động sản xuất, kinh doanh - những ứng dụng được ghi nhận là chìa khóa then chốt để TTT mở rộng cánh cửa thị trường.
Chính Nghĩa
- Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 35 + 36/2008