![]() |
| Những năm cuối cùng của thế kỷ 20, ngành viễn thông Việt Nam đã có bước phát triển rất mạnh mẽ với việc đi thẳng vào công nghệ hiện đại. |
Thưa ông, khi xây dựng Chỉ thị 58, Tổng cục Bưu điện đóng vai trò gì và xây dựng những phần nào của Chỉ thị này?
Phần Viễn thông và Internet chủ yếu do Tổng cục Bưu điện xây dựng, còn công nghệ thông tin (CNTT) do Bộ Khoa học và Công nghệ (KHCN) tham gia. Phải nói rằng, Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị năm 2000 là một cơ sở rất quan trọng cho ngành bưu chính viễn thông và CNTT của Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới trong thập kỷ đầu của thế kỷ 21.
![]() |
| Ông Mai Liêm Trực |
Việc ban hành Chỉ thị 58 có căng thẳng như việc mở cửa Internet không, thưa ông?
Mở cửa Internet thể hiện một tầm chính trị, để Việt Nam không mất thời cơ trên con tàu đang khởi động nhanh đưa đất nước hội nhập kinh tế thế giới. Trong đó có việc đang đàm phán thương mại Việt - Mỹ cũng như bắt đầu đàm phán ra nhập WTO. Lúc đó, khó khăn lớn nhất không phải vấn đề kĩ thuật vì mạng lưới của mình đã được số hoá mà khó khăn về chủ trương. Nói cách khác, về mặt cá nhân - tôi tập trung sức lực để thuyết phục cấp trên và hoàn toàn bằng lý trí, bằng kiến thức của tôi về Internet, về những lợi ích, cái hay, cái dở của nó.
Nhưng mở cửa thị trường viễn thông thì vừa phải lý trí lại vừa phải tình cảm, vừa ở trên lại vừa ở dưới. Tôi đã là Tổng giám đốc VNPT, suốt bao nhiêu năm làm người của ngành, mở cửa thị trường viễn thông là cả một vấn đề. Trăn trở về mặt tình cảm với VNPT, với các đơn vị của VNPT và có cả tình cảm đối với người dân là được hưởng lợi khi mở cửa. Vừa lý trí là quy luật nó phải như vậy, phải mở cửa thị trường trong điều kiện đất nước đang phát triển và cái lợi khi mở cửa thị trường cho nhân dân, doanh nghiệp, nhà nước. Ngoài ra, phải thuyết phục cấp trên về những nỗi lo khi mở cửa thị trường, an ninh an toàn thông tin như thế nào, quản lý như thế nào. Theo kinh nghiệm của các nước, chuyển từ độc quyền tự nhiên sang cạnh tranh thông thường đều phải mất 10 năm. Từ lúc độc quyền cho đến khi thị trường thực sự có cạnh tranh là khi các doanh nghiệp mới phải chiếm ít nhất 30 % thị trường của dịch vụ. Mở cửa thị trường viễn thông là cả một quá trình phức tạp, thậm chí có thể tạo xung đột lợi ích và xung đột xã hội. Dù VNPT phản ứng mạnh mẽ nhưng tôi vẫn thuyết phục và kiên quyết.
Trong phần về viễn thông và Internet của Chỉ thị 58 có tư tưởng mở cửa thị trường không, thưa ông?
Thực ra, Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị là một cơ sở rất quan trọng cho sự phát triển giai đoạn mới của ngành viễn thông và CNTT. Nó thể hiện ở hai khía cạnh: Một là sự quyết tâm và cơ chế tạo thuận lợi để thúc đẩy phát triển, đặc biệt là về lĩnh vực CNTT có những cơ chế, chủ trương để thúc đẩy và thể hiện quyết tâm. Hai là tạo nên những cơ chế, những chính sách được văn bản hoá chủ trương của Đảng để phát triển lĩnh vực viễn thông.
Ngành bưu chính viễn thông Việt Nam trong hơn 15 năm đổi mới từ năm 1986 -2000 đã có những bước phát triển rất nhanh trên cơ sở chiến lược về số hoá; sử dụng những nguồn lực tài chính hợp tác quốc tế, đầu tư nước ngoài, những nguồn lực của xã hội và những nguồn lực từ những thành quả kinh doanh từ viễn thông quốc tế.
Vậy khó khăn lớn nhất lúc đó là gì?
Khó khăn lớn nhất là làm sao giải toả được những lo ngại của cấp trên khi mở cửa thị trường. Thuyết phục của Tổng cục Bưu điện lúc đó, trước hết là phải khẳng định rằng khi mở cửa thị trường và tạo sự cạnh tranh thì chắc chắn giá cước sẽ giảm xuống và tốc độ phát triển sẽ cao hơn, chất lượng dịch vụ sẽ tốt hơn. Ngoài ra, Việt Nam đang bắt đầu đàm phán thương mại Việt Mỹ, đàm phán gia nhập WTO, phải mở cửa thị trường viễn thông để các doanh nghiệp Việt Nam tập dượt cạnh tranh trong nước trước để có kinh nghiệm. Khi mở cửa thị trường bên ngoài thì các doanh nghiệp Việt Nam mới sống được bởi chưa biết bơi trong ao thì không thể biết bơi ở biển lớn. Bên cạnh đó, Tổng cục Bưu điện cũng làm việc với các cơ quan chức năng cũng như các doanh nghiệp để đảm bảo quá trình an toàn an ninh trong thông tin, đảm bảo sự kiểm soát của nhà nước đối với mạng lưới.
Tổng cục Bưu điện đã nêu vấn đề độc quyền suốt từ năm 1998, 1999 trong các hội nghị của ngành, trong các tờ trình chính phủ về chiến lược phát triển của ngành cũng như trong vấn đề chuẩn bị về các chính sách cấp phép cho mở cửa thị trường. Tổng cục Bưu điện thấy rằng phải đưa những tư tưởng của mình vào Nghị quyết của Đảng, khi đã đưa vào Nghị quyết Đảng thì nó là cơ sở để chúng ta thực thi. Chính vì vậy, Tổng cục Bưu điện đã phối hợp chặt chẽ với Bộ KHCN trong quá trình triển khai Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị. Phần lớn nội dung về viễn thông và Internet là của Tổng cục Bưu điện đã đưa vào Chỉ thị 58 bằng các cuộc họp và văn bản góp ý vào dự thảo Chỉ thị. Những điều mà Tổng cục Bưu điện trăn trở sẽ làm, về cơ bản đã được đưa vào Chỉ thị, ví dụ như về tư tưởng quản lý Internet là “quản đâu mở đó” trong suốt 2 năm trời đã được thay bằng “Quản lý phải theo kịp phát triển”. Mở cửa thị trường viễn thông tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển viễn thông và Internet.
Chỉ thị 58 ra đời là cơ sở rất quan trọng cho giai đoạn phát triển mới của viễn thông và CNTT Việt Nam. Sau đó, Tổng cục Bưu điện đã có ngay chỉ thị của Tổng cục trưởng về triển khai Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị. Tổng cục Bưu điện đã xây dựng Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông, đã đưa được nhiều tư tưởng của Chỉ thị 58 vào trong Pháp lệnh, kể cả vấn đề mở cửa thị trường cạnh tranh. Trong Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông cũng đã cụ thể hoá rất nhiều những điều trong Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị. Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông đã đưa ra những biện pháp quản lý nhà nước, cơ chế quản lý nhà nước như quỹ viễn thông công ích…
Để mọi thứ bài bản, chiến đấu với những lực cản của mở cửa thị trường thì phải cần đến Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị. Từ đó, thị trường Internet bắt đầu thực sự bùng nổ, thị trường viễn thông có điều kiện để phát triển. Về cá nhân, tôi rất mừng khi mở cửa viễn thông ở Việt Nam thành công so với một số nước dù vẫn còn một số hạn chế. So với một số nước thì ở Việt Nam có hai điểm khó hơn: Lo ngại về vấn đề an toàn và khi cấp phép và các doanh nghiệp thì phần nhiều các doanh nghiệp yếu, tài chính không có gì, đội ngũ cũng rất yếu.

Thưa ông, lúc đó, Chỉ thị 58 có phải là văn bản cao nhất nói về tư tưởng mở cửa thị trường viễn thông?
Đúng là như vậy, mặc dù về mặt chủ trương thì từ năm 1995 thủ tướng Võ Văn Kiệt đã có tư tưởng mở cửa thị trường. Về nguyên tắc, đồng ý cho Viettel và SPT tham gia vào dịch vụ viễn thông trong nước nhưng thực ra có lực cản rất lớn. Cho nên đứng về mặt Đảng đó là văn bản cao nhất về tư duy phát triển viễn thông và Internet, trong đó có nội dung mở cửa thị trường.
Chỉ thị 58 có yêu cầu phát triển viễn thông và Internet phải đẩy nhanh ứng dụng CNTT trong mọi lĩnh vực. Nhưng lúc đó, chúng ta chưa quản lý về phần CNTT.
Để định nghĩa về CNTT tôi vẽ ra một cái tam giác có “bánh chưng” nằm giữa mà tôi đã trình bày tại một số hội nghị quốc tế. CNTT có bốn cái trụ cột “bánh chưng”: mạng viễn thông và Internet, công nghiệp CNTT, ứng dụng CNTT và nguồn nhân lực cho CNTT. Tam giác thực thi bốn trụ cột này có Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Tư duy quản lý viễn thông và CNTT là hai tư duy hoàn toàn khác nhau. Tư duy về viễn thông là tư duy top-down, vì mọi cái như luật viễn thông, quy định cấp phép, đều rất chặt chẽ. Còn tư duy quản lý IT là kiểu tư duy bottom-up, tức là từ phát triển tự phát mà đi lên.
Tôi phải hiểu nghề nghiệp của từng “anh”. Trong Chỉ thị 58, có hai nội dung: Một là thể hiện cái ý chí và quyết tâm để tạo những chính sách, cơ chế thúc đẩy phát triển. Nội dung này chủ yếu nói về IT. Hai là tạo những cơ chế, chính sách để quản lý mở cửa thị trường đối với viễn thông. Do đó phần viễn thông, mình sử dụng Chỉ thị 58 nhiều hơn đối với IT. Chỉ thị 58 không làm được bao nhiêu, không hiệu quả về IT.
Những thành công của viễn thông, yếu tố Nhà nước đóng vai trò quyết định khi mở cửa thị trường. Nhưng đối với IT thì chủ yếu do các doanh nghiệp và các đơn vị, kể cả các đơn vị của nhà nước địa phương vượt qua được những rào cản về lợi ích, thói quen… Nơi nào quyết tâm thì người ta làm được. Những thành tựu về IT trong những năm vừa qua không phải từ những chính sách mà chủ yếu từ tự phát, nhu cầu của các doanh nghiệp thúc đẩy IT phát triển.
Ông đánh giá như thế nào về quá trình 10 năm thực hiện Chỉ thị 58?
Chỉ thị 58 của Bộ Chính trị là cơ sở rất quan trọng cho sự phát triển có tính chất đột phá của ngành viễn thông và CNTT nước nhà. Đặc biệt là những cơ sở để mở cửa thị trường viễn thông Việt Nam tạo sự cạnh tranh, nó cũng là cơ sở để Tổng cục Bưu điện đàm phán trong hiệp định thương mại Việt Mỹ cũng như là đàm phán gia nhập WTO. Đây là cơ sở cho các doanh nghiệp cũng như người sử dụng có những điều kiện thuận lợi mà phát triển với giá cả hạ xuống, chất lượng tăng lên.
Về CNTT, cũng có những động lực về ý chí, về mặt thúc đẩy cho công nghiệp CNTT, ứng dụng CNTT cho toàn xã hội, công nghệ phần cứng, phần mềm, nội dung; có sự thúc ép nhất định cho việc mở ra nhiều trường, khoa về đào tạo CNTT trong những năm gần đây. Tuy nhiên, tôi cho rằng là trong thực thi, triển khai vẫn còn hạn chế nhất định. Về viễn thông, rất tiếc là các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh chưa tham gia được bao nhiêu trong thị trường mà hầu hết vẫn là các doanh nghiệp nhà nước dù Chỉ thị 58, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông đã quy định rất rõ.
Trong 10 năm, chúng ta rút ra được những bài học gì để bước tiếp qua 10 năm, 20 năm nữa, thưa ông ?
Cuối cùng, điều tôi rút ra được vẫn là vấn đề con người. Trong quá trình đổi mới bao giờ cũng có những lực cản. Lực cản thứ nhất là những hạn chế về mặt kiến thức. Lực cản thứ hai là những hạn chế về mặt ý chí, ngại đổi mới, ngại va chạm. Lực cản thứ ba là lợi ích nhóm cản trở quá trình phát triển dẫn đến không vượt qua được rào cản.
Xin cảm ơn ông!
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 105,106 ra ngày 1/9/2010.

