Mùng Ba Tết thầy là một nét đẹp lâu đời trong văn hóa Việt, nơi tình thầy trò được nối dài qua những cuộc gặp gỡ ấm áp. Nhân dịp này, VietNamNet giới thiệu diễn đàn “Tết Thầy xưa và nay”, ghi lại những câu chuyện và suy ngẫm về nghề dạy học, qua đó tôn vinh đạo lý tôn sư trọng đạo trong đời sống hôm nay. Bài viết dưới đây là chia sẻ của một độc giả 45 tuổi ở Hà Nội được VietNamNet ghi lại.
Hồi đó, thầy cô phần lớn ở cùng làng, cùng xã. Năm ấy, tôi và cô bạn thân rủ nhau sang chúc Tết thầy chủ nhiệm. Gọi thêm mấy đứa khác thì chúng lắc đầu: “Thầy nghiêm lắm, lần trước tao còn bị véo tai vì không làm bài”, đứa khác thêm vào: “Thầy ném phấn vào tao hôm tao mải nói chuyện tiết Toán”.
Nhưng trong mắt tôi, thầy lại là người vui tính và quan tâm học trò. Thầy hay đi xuống từng bàn, nhìn từng nét chữ của học trò. Có lần thầy còn khen tôi viết chữ đẹp. Thầy đặt ra một “luật” rất lạ: Hai đứa ngồi cạnh nhau phải biết giúp đỡ nhau học. Ai học khá hơn có trách nhiệm kèm bạn; nếu bạn nói chuyện, lười học thì được quyền nhắc nhở, thậm chí… gõ nhẹ vào tay. Với lũ trẻ con chúng tôi, đó vừa là kỷ luật vừa là một cách thầy dạy chúng tôi biết sống có trách nhiệm với nhau.
Năm đó, quyết định đi chúc Tết đã có, vấn đề tiếp theo là mua gì làm quà. Tôi và đứa bạn gom tiền mừng tuổi của mấy ngày trước, đắn đo hồi lâu rồi chọn… hai gói kẹo gôm nhiều màu sắc, loại kẹo dẻo quẹo, dính răng mà chúng tôi mê tít. Lý do rất đơn giản: Vì chúng tôi thích ăn nên nghĩ thầy chắc cũng thích!
Đường sang làng bên chỉ vài trăm mét mà hôm ấy dài như một chuyến phiêu lưu. Hai đứa vừa đi vừa ngó trước nhìn sau, tránh những “trận tập kích” pháo tép của đám trẻ nghịch ngợm trên đường. Đến cổng nhà thầy thì chúng tôi lại chùn bước. Đứng ngấp nghé ngoài cổng gần nửa giờ, đứa này giúi đứa kia vào trước mà chẳng ai đủ can đảm.
Đúng lúc ấy, thầy dắt chiếc xe đạp cà tàng từ trong nhà ra. Thấy hai đứa lấm lét, thầy hỏi: “Các em đi đâu thế?”. Chúng tôi đỏ mặt, lí nhí: “Thầy ơi, chúng em đến chúc Tết thầy…”, rồi vội vàng giúi hai gói kẹo gôm vào tay thầy và ù té chạy. Nghĩ lại, đó là một trong những khoảnh khắc ngây ngô và trong trẻo nhất của tuổi thơ.

Lớn hơn một chút, khi học cấp 2, cấp 3, dù nhà thầy cô ở xã khác, chúng tôi vẫn rủ nhau rồng rắn đạp xe đi chúc Tết. Mỗi đứa góp một ít tiền mừng tuổi để mua quà. Có khi là chiếc áo sơ mi vì thấy thầy “toàn mặc áo cũ”, khi là cái lọ hoa, bộ ấm chén, gói bánh kẹo hay cuốn sổ tay. Đến nhà thầy cô ngày Tết luôn là một niềm vui. Thầy cô bày đủ loại bánh trái, hạt hướng dương cho chúng tôi xơi thoải mái. Tôi vẫn nhớ năm lớp 9, cả nhóm kéo sang chúc Tết cô giáo rồi tiện thể “oanh tạc” vườn táo sau nhà, không chỉ ăn no nê mà còn cho đầy túi nilon mang về.
Sau khi ra trường, vài năm đầu chúng tôi vẫn giữ lệ hẹn nhau mùng 3 Tết tụ tập rồi đến thăm thầy cô. Nhưng dần dần, theo nhịp sống trưởng thành, nếp cũ ấy thưa đi. Khi mỗi người có công việc riêng, có gia đình, Tết trở nên dày đặc những trách nhiệm với hai bên nội ngoại, với con cái. Nhiều người tranh thủ dịp nghỉ dài để về quê xa hoặc đi du lịch.
Bây giờ, hiếm thấy cảnh học sinh rủ nhau đến tận nhà chúc Tết thầy cô như trước. Đường sá ngày Tết đông đúc cũng khiến cha mẹ e ngại cho con đi lại. Việc thăm hỏi cuối năm nếu có thường do phụ huynh đứng ra tổ chức. Không ít học sinh thậm chí không còn biết đến câu “mùng Ba Tết thầy”.
Thực ra, phong tục ấy có một cội nguồn văn hóa sâu xa. Trong Việt Nam phong tục (1915), học giả Phan Kế Bính mô tả mồng một Tết là dịp con cháu làm lễ cúng gia tiên và mừng tuổi ông bà, cha mẹ - tức “mồng một Tết cha”. Theo mạch đạo lý ấy, người xưa dành mùng Ba để tri ân người thầy.
Ngày trước, thầy đồ dạy học phần lớn không hưởng lương triều đình mà sống nhờ sự đùm bọc của học trò và phụ huynh. Muốn theo học, trò phải làm lễ nhập môn, kính cẩn lạy thầy. Trong năm có nhiều dịp lễ Tết, gia đình học trò mang quà đến tạ ơn: Khi thì cặp gà, thúng gạo, khi là bánh trái, đường mứt hay ít tiền tùy điều kiện. Quan hệ thầy trò được coi trọng như tình cha con. Nhà thầy có việc hiếu hỉ, học trò cùng lo toan; khi thầy qua đời, trò để “tâm tang” ba năm. Việc chọn mùng Ba làm Tết thầy xuất phát từ chính đạo nghĩa tôn sư trọng đạo ấy.
Có lẽ vì thế mà dù phong tục có đổi thay, ký ức về hai gói kẹo gôm năm nào vẫn ở lại trong tôi như một biểu tượng giản dị của lòng biết ơn. Món quà trẻ con vụng về ấy không nằm ở giá trị vật chất, mà ở niềm háo hức được gõ cửa nhà thầy, được nói lời chúc Tết bằng tất cả sự hồn nhiên của tuổi nhỏ.
Bây giờ, khi đã trưởng thành, mỗi khi Tết về nhớ lại buổi sáng mùng Ba năm ấy, tôi vẫn thấy ấm lòng. Chỉ cần tinh thần tri ân thầy cô còn được gìn giữ, dù bằng một cuộc gọi, một tin nhắn hay một lần ghé thăm, thì sợi dây nối với truyền thống ấy vẫn lặng lẽ bền bỉ trong đời sống hôm nay.
