
VNPT là một trong những doanh nghiệp đóng góp lớn nhất cho ngân sách nhà nước hàng năm
Đó là một số nét chính trong đề xuất của độc giả Mai Thị Hải Yến, chuyên viên giá cước - tiếp thị, Phòng Kế hoạch kinh doanh - Viễn thông Lào Cai với lãnh đạo Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
Giai đoạn trước đây, ngành Bưu điện có vị thế độc quyền nhưng từ khi Nhà nước cho phép “mở cửa” dịch vụ viễn thông, CNTT, bưu chính thì những doanh nghiệp (DN) như Viettel, EVN, SPT, HT Mobile... đã xuất hiện và tạo nên diện mạo mới cho lĩnh vực kinh doanh này. Giờ đây, VNPT phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ từ các đối thủ kinh doanh thị phần bị thu hẹp chỉ còn là doanh nghiệp chiếm thị phần khống chế. Xuất phát từ thực tế này, tôi xin đề xuất một số giải pháp cơ bản với phương châm “Nâng cao nội lực - Đầu tư ngoại lực - Cạnh tranh thắng lợi”.
Nâng cao nội lực
Tầm nhìn chiến lược là yếu tố quan trọng đầu tiên. VNPT phải “đi tắt đón đầu”, đầu tư ngay vào những công nghệ mới mà thế giới đang và sẽ sử dụng để đầu tư thiết bị và làm chủ công nghệ một cách nhanh nhất. Muốn vậy, Tập đoàn cần tập trung được đội ngũ cán bộ kỹ thuật lành nghề làm nòng cốt chuyên nghiên cứu, xây dựng, liên kết, ứng dụng công nghệ vào thực tiễn hoạt động SXKD.
Tiếp đến là nâng cao chất lượng bằng cách đầu tư mạng lưới, hạ tầng cơ sở một cách đồng bộ. Cần chú ý là đầu tư phải có quyền ưu tiên, vừa đầu tư đồng bộ vừa đầu tư có trọng điểm. Có như vậy mới trang bị đủ năng lực để cung cấp dịch vụ chất lượng cao đến với khách hàng. Lào Cai là một tỉnh miền núi, bên cạnh những khó khăn như các tỉnh miền núi khác cũng có rất nhiều thuận lợi: nhiều điểm du lịch nổi tiếng (Sa Pa, Bắc Hà…), cửa khẩu biên giới Việt - Trung sầm uất… Nếu không có sự đầu tư trọng điểm, Bưu chính Viễn thông Lào Cai có đáp ứng được nhu cầu khách hàng không? Có cạnh tranh được với các DN khác trên cùng địa bàn hay không? Tính đến năm 2007, Bưu điện tỉnh Lào Cai có 23 trạm BTS phủ sóng di động Vinaphone - quá khiêm tốn so với 56 trạm của Viettel. Dịch vụ Gphone của VNPT cũng đến sau dịch vụ Homephone của Viettel. Đến khi Bưu điện tỉnh giảm cước hoà mạng (chỉ còn 130.000 đồng) trong khi vẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ khiến lượng khách hàng gia tăng thì lại rơi vào tình trạng không có hàng để bán. Trên thực tế, Bưu điện tỉnh đã phối hợp với Vinaphone khảo sát để lắp đặt các trạm BTS song quá trình triển khai lại quá chậm, dẫn đến mất thị phần.
Nhân lực cũng là một yếu tố mang tính sống còn. Rất nhiều cán bộ giỏi của VNPT (ở Viện khoa học kỹ thuật Bưu điện, VDC…) đã xin ra khỏi ngành và làm việc cho các DN cung cấp dịch vụ viễn thông, CNTT khác. Để xây dựng được một lực lượng lao động trình độ cao, tâm huyết với nghề, VNPT cần thực hiện những biện pháp sau:
Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao: Các Bưu điện tỉnh, thành phố, cần phối hợp chặt chẽ với Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông trong việc phát triển và thu hút nhân tài về địa phương; nâng cao chất lượng đào tạo của các trường trung cấp, công nhân đào tạo nghề cho Tập đoàn.
Phát triển “nguồn nhân lực mũi nhọn”: VNPT phải xác định lại tỷ lệ của từng yếu tố trong tổng quỹ lương hoặc lựa chọn cơ chế trả lương theo công việc, mức độ phức tạp, tính trách nhiệm và mức độ hoàn thành công việc. Ngoài ra, cần bổ sung thêm yếu tố “đặc thù khó khăn khi thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch SXKD” để giao đơn giá tiền lương cho những đơn vị thành viên một cách phù hợp.
Tập trung đầu tư ngoại lực
Khi chuyển sang kinh tế thị trường, tư duy kinh doanh của VNPT phải thay đổi: từ việc khách hàng cần chúng ta để được cung cấp dịch vụ thay bằng phương châm “Tất cả vì khách hàng”. VNPT cần tổ chức những lớp tập huấn nhằm nâng cao trình độ chăm sóc khách hàng của CBCNVC-LĐ toàn ngành. Các bưu điện viễn thông tỉnh, thành phải luôn cập nhật cơ sở dữ liệu mới để thực hiện các chính sách chăm sóc khách hàng trong tương lai (tặng quà vào ngày sinh nhật, thành lập công ty…). Có chính sách hậu mãi để tôn vinh những đối tác trung thành; kịp thời giải đáp vướng mắc, khiếu nại của khách hàng. Phát hành thẻ thành viên dành cho các khách hàng lâu năm. Đính thẻ phản hồi thông tin kèm các hợp đồng cung cấp và sử dụng dịch vụ. Cung cấp cho các nhân viên thu cước sử dụng dịch vụ danh mục câu hỏi mẫu để kiếm tìm phản hồi từ phía khách hàng.
Quảng bá thương hiệu cũng là một việc không thể coi nhẹ. Cần có sự phối hợp đồng bộ các biện pháp tuyên truyền qua những phương tiện truyền thông hiệu quả: truyền hình, truyền thanh, tờ rơi, bandroll, poster… Tổ chức song song những biện pháp tuyên truyền ở cả quy mô Tập đoàn và các tỉnh, thành như các chương trình roadshow (tiếp thị đường phố). Thiết kế và sản xuất vật phẩm lưu niệm mang thương hiệu ngành. Đỡ đầu tài trợ cho một đội bóng hoặc một hoạt động tuyên truyền có tính phổ cập sâu rộng. Xây dựng và ban hành cơ chế cho phép các Bưu điện, Viễn thông tỉnh, thành chủ động quảng bá thương hiệu trong phạm vi địa bàn quản lý (tài trợ, đồng tổ chức các chương trình kỷ niệm sự kiện của tỉnh, hội chợ văn hóa du lịch…).
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 78 ra ngày 29/8/2008