
Theo điều tra của Chương trình phát triển Liên hiệp quốc, hiện nay tại Việt Nam có hơn 45% khách hàng là doanh nghiệp, cá nhân muốn chuyển sang vay vốn của ngân hàng nước ngoài và 50% chọn ngân hàng nước ngoài để gửi tiền (hiện đã có 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài được cấp phép đầu tư tại Việt Nam).
Theo ông Dương Dũng Triều – Phó Tổng giám đốc Công ty TNHH Hệ thống Thông tin FPT (FPT-IS), sức ép cạnh tranh của ngân hàng “nội” trước ngân hàng “ngoại” đã đến hồi căng thẳng khi họ bị mất dần những khách hàng quan trọng như doanh nghiệp nhỏ, cá nhân thu nhập cao. Cơ hội còn lại của các ngân hàng “nội” chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp lớn. Cùng đó, trong khi các thủ tục của ngân hàng Việt Nam vẫn nặng về hành chính, chậm thay đổi để bám sát thực tế khiến khách hàng phải chờ đợi lâu thì các ngân hàng nước ngoài lại ngày càng đơn giản hóa thủ tục nhờ vào các chính sách, ứng dụng tiên tiến.
Mạnh tay cắt giảm đầu tư CNTT: Sai lầm
Bên cạnh vấn đề thủ tục, vấn đề đảm bảo an ninh, an toàn cho giao dịch điện tử cũng là một yếu tố quan trọng để các doanh nghiệp, cá nhân… “chọn mặt gửi vàng”. Tại Banking Vietnam 2009, ông Lê Mạnh Hùng – Cục trưởng Cục Công nghệ tin học, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, cho biết: Trong những năm gần đây, tình hình ứng dụng CNTT trong ngành ngân hàng đã được đẩy mạnh: 79% có hệ thống phòng chống virus, 88% trang bị hệ thống tường lửa; 63% có trung tâm lưu trữ và dự phòng thảm họa với phương thức lưu trữ là 60% online và 40% offline… Hiện nay trên 80% ngân hàng Việt Nam đang tiếp cận với hệ thống Core Banking – hệ thống phần mềm tích hợp các ứng dụng tin học trong quản lý thông tin, giao dịch, tài sản, quản trị rủi ro…
Trao đổi với phóng viên BĐVN về thực trạng quản lý rủi ro tại các ngân hàng Việt Nam, ông Robert Ingham – GĐĐH Thị trường tài chính và Quản lý rủi ro IBM tại các thị trường đang phát triển, nhận định các ngân hàng Việt Nam đang ứng dụng những giải pháp quản lý rủi ro khá hiệu quả. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn nữa có thể sẽ lạc hậu, phải nhanh chóng hoàn thiện hơn các giải pháp. Bởi thực tế cho thấy những ngân hàng quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam như ANZ, HSBC… đang ngày càng tạo ra áp lực lớn trong vấn đề tranh giành thị phần do họ áp dụng nhiều biện pháp bảo mật phức tạp, tiên tiến, xây dựng được niềm tin đối với khách hàng…
Đặt trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế toàn cầu như hiện nay, nhiều khoản đầu tư hạ tầng tại các tổ chức, doanh nghiệp…, trong đó có cả ngành ngân hàng, bị cắt giảm mạnh. Thế nhưng, sẽ là sai lầm lớn nếu như cắt giảm chi phí cho ứng dụng CNTT, cho vấn đề bảo mật - Vấn đề này đã được nhiều chuyên gia an ninh mạng cả trong và ngoài nước đã cảnh báo tại hội thảo Security World 2009 được tổ chức hồi tháng 3/2009 tại Hà Nội.
Vẫn là nền kinh tế tiền mặt
Theo ông Đinh Quang Nương – Phó Tổng giám đốc Ngân hàng Đông Á, hiện tỷ lệ tiền mặt trên tổng phương tiện thanh toán tại Việt Nam chiếm khoảng trên 17%. Như vậy có thể khẳng định cho đến nay Việt Nam vẫn là nền kinh tế tiền mặt. Dẫn số liệu thống kê sơ bộ từ Ngân hàng Nhà nước, ông Nương cũng cho biết hiện có khoảng 15 triệu tài khoản thẻ giao dịch với các ngân hàng và nếu đem so sánh với lượng dân số 85 triệu người như hiện nay thì con số đó còn rất nhỏ - tức là tương đương với dưới 10% dân số tiếp cận các sản phẩm dịch vụ “số” trong lĩnh vực tài chính ngân hàng.
Lý giải những hạn chế khiến giao dịch không dùng tiền mặt vẫn “ì ạch”, ông Robert Ingham khẳng định: Chính rủi ro trong vấn đề sử dụng thẻ ATM và thanh toán điện tử vẫn là những rào cản gây ra sự lo ngại khiến người Việt Nam phần lớn chưa quen với việc giao dịch không dùng tiền mặt, nhận tiền công qua ATM...
Cần đẩy mạnh dịch vụ và đối tượng khách hàng
Quy trình thủ tục phức tạp cùng với sự hạn chế về công nghệ đang khiến cho ngân hàng Việt Nam mất lợi thế ngay trên sân nhà. Do vậy, vấn đề đặt ra là làm sao có thể tạo ra được các thủ tục thông thoáng để tạo thuận lợi cho khách hàng, vừa hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Tại Banking Vietnam 2009, ý kiến của nhiều chuyên gia cho rằng để cải thiện tình hình hiện nay, ngân hàng “nội” cần phải tìm cách đưa dịch vụ của mình đến các đối tượng chưa có tài khoản cũng như khuyến khích người dân sử dụng các dịch vụ không dùng tiền mặt. Hiện các ngân hàng trong nước đã cung cấp dịch vụ internet banking, mobile banking… tuy nhiên vẫn chủ yếu hướng đến người dùng có tài khoản tại ngân hàng và dịch vụ chưa phong phú. Vì thế, cần hướng tới cung cấp dịch vụ cho những người chưa có tài khoản ngân hàng như cung cấp dịch vụ thanh toán qua ĐTDĐ, cho vay qua Internet, cung cấp dịch vụ thanh toán mới không dùng tiền mặt như trả tiền thuế doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân qua ngân hàng, xây dựng mạng cộng đồng để đưa ra hệ thống tiền ảo phục vụ cộng đồng…
Trao đổi thêm với báo BĐVN, ông Dương Dũng Triều cũng đã đưa ra một số giải pháp như đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong quản lý tiến trình, quản lý nội dung theo hướng như cho phép tự động hóa quy trình nội bộ ngân hàng, lưu giữ điện tử hồ sơ khách hàng, ứng dụng CNTT trong quản lý quá trình cho vay từ định nghĩa sản phẩm, nhập đơn xin vay tiền, xác minh, chấp nhận cho vay đến giải ngân, quản lý thu nợ…
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 69 ra ngày 10/6/2009