Dấu tích thời hoàng kim của ngôi làng ven sông

Nằm bên dòng sông Nhuệ, Cự Đà (xã Bình Minh, Hà Nội) là ngôi làng có lịch sử khoảng 400 năm, nổi tiếng với nghề làm tương, miến dong và không gian kiến trúc đặc biệt. Đây cũng là một trong những làng cổ vùng đồng bằng Bắc Bộ hiếm hoi có sự giao thoa rõ nét giữa những nếp nhà Việt truyền thống và các công trình mang phong cách Pháp.

Cự Đà có cấu trúc làng theo hình "xương cá". Từ trục đường chính chạy dọc bờ sông, các ngõ nhỏ tỏa vào từng xóm. Lối vào các xóm có cổng vòm mái cong, hai bên đặt câu đối.

Vị trí ven sông từng tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao thương, buôn bán của người dân trong làng.

Theo sử liệu, giai đoạn hưng thịnh nhất của Cự Đà là từ khoảng năm 1890 đến 1945, khi nơi đây trở thành một trung tâm buôn bán, trao đổi hàng hóa của cả vùng. Nhiều người Cự Đà ra Hà Nội lập nghiệp tại những khu phố sầm uất như Hàng Ngang, Hàng Đào...

Trong số đó có những bậc cự phú như cụ Cự Doanh, sau đó là cụ Cự Chân - một trong những người được coi là tổ nghề của nghề dệt kim Đông Xuân. 

W-làng cự đà.jpg

Cổng làng cổ kính xây dựng đã gần 1 thế kỷ

Một ngày tháng 8, ông Đinh Công Minh, Chi hội trưởng Chi hội Người cao tuổi thôn Cự Đà - Khúc Thủy dẫn PV VietNamNet đi qua những con ngõ nhỏ để tìm lại dấu tích của thời kỳ thịnh vượng ấy.

Theo ông Minh, trước đây Cự Đà có nhiều nhà cổ đẹp, tạo nên một không gian làng rất đặc trưng. Những nếp nhà truyền thống nằm xen với các căn nhà mang phong cách Pháp.

Trong làng hiện nay vẫn còn khoảng 40 ngôi nhà cổ nhưng số nhà giữ được nguyên vẹn kiến trúc ban đầu không nhiều.

W-làng cự đà.jpg

Chiếc cổng cổ kính của nhà thờ họ Trịnh - một trong những dòng họ lớn trong làng

Ngôi nhà của ông Trịnh Thế Sủng (sinh năm 1952), Trưởng ban nghị sự dòng họ Trịnh là một trong những ngôi nhà truyền thống còn được con cháu gìn giữ. Theo ông Sủng, ngôi nhà được xây dựng năm 1874. Ông thuộc đời thứ tư sinh sống tại đây, đến thế hệ các cháu hiện nay đã là đời thứ bảy.

Ngôi nhà được xây dựng 5 gian 2 dĩ, sử dụng gỗ xoan, phía trước là hệ cửa bức bàn, mái lợp ngói ri cổ nung bằng rơm. Trải qua nhiều thế hệ, căn nhà được cha truyền con nối; bên trong hiện vẫn còn đôi câu đối do học trò tặng ông nội của ông Sủng. 

W-HUI_1358.jpg

Ông Sủng trăn trở liệu con cháu có thể giữ gìn được ngôi nhà của tổ tiên

Nếu căn nhà của gia đình ông Sủng đại diện cho kiến trúc truyền thống Bắc Bộ, ngôi nhà nơi ông Nguyễn Văn Bảo sinh sống lại mang một dáng vẻ hoàn toàn khác.

Căn nhà vốn thuộc sở hữu của một thương nhân rất giàu có và được xây dựng cầu kỳ theo kiến trúc Pháp với 2 tầng, sân vườn. Năm 1955, gia đình ông Bảo được phân về sinh sống tại đây. Trong ký ức của ông, ngôi nhà khi ấy rất đẹp, có cả bệ hoa, bệ cá cảnh được làm công phu.

W-HUI_1452 (1) (1).jpg
Công trình mang dấu ấn kiến trúc Đông Dương, kết cấu theo phong cách Pháp nhưng kết hợp các họa tiết truyền thống Việt Nam

Điểm đặc biệt nhất của căn biệt thự là 8 bức tượng phúc thần cỡ nhỏ đặt phía trước cửa. Theo gia chủ, từng có nhiều người tìm cách lấy trộm chúng nhưng không thành. Nhiều người khác tìm tới hỏi mua với giá hàng trăm triệu đồng nhưng gia đình không bán.

Sau gần 100 năm sử dụng, căn biệt thự đã xuống cấp nghiêm trọng. Tường nhà ố vàng, nhiều vị trí bong tróc. Việc cơi nới, sửa chữa qua thời gian để phục vụ nhu cầu sinh hoạt cũng khiến kiến trúc công trình không còn được như ban đầu.

Mong giữ trọn vẹn "làng trong phố"

Những ngôi nhà cổ không còn nhiều, song Cự Đà vẫn lưu giữ được nhiều dấu tích gắn với đời sống của một làng Việt lâu đời. Giữa những công trình mới, đình, chùa, cột cờ cùng hệ thống ngõ xóm cũ vẫn góp phần định hình diện mạo riêng của ngôi làng 400 năm tuổi.

Nằm giữa làng là đình Cự Đà, còn gọi là đình Vật, nơi ông Minh trực tiếp tham gia chăm nom. Đình thờ Thành hoàng làng, một vị quan võ thời nhà Đinh. Công trình còn giữ được những cột lim dài, mái đình cong vút; phía trước sân là đôi cóc đá đã tròn nhẵn theo năm tháng.

làng cự đà.jpg

Cùng với đình, chùa Cự Đà (Linh Minh Tự) là một trong những công trình cổ quan trọng còn hiện diện trong không gian làng. Chùa được xếp hạng Di tích quốc gia năm 2000. Cổng tam quan chính quay về hướng Nam, phía trước có hai cây muỗm cổ thụ rất lớn.

Một dấu tích khác của thời kỳ Cự Đà phát triển thịnh vượng là cột cờ được xây dựng từ năm 1929. Khoảng năm 1930, làng còn có 12 cột đèn gang được dựng dọc đường, sử dụng nguồn điện từ máy phát chạy bằng xăng đưa từ Hà Nội về. Hiện chỉ còn hai cột đèn cũ giữa làng.

W-HUI_1332.jpg
Cột cờ gần trăm năm nằm gần khu chợ của làng

Gần đây, Cự Đà được du khách tìm đến vào dịp cuối tuần để ngắm những căn nhà cổ, đình, chùa và các ngõ xóm cũ. Nghề truyền thống làm tương và miến của làng cũng hấp dẫn du khách khám phá.

Tuy nhiên, phía sau sức hút của một làng cổ ven sông là nỗi lo về sự mai một ngày càng rõ rệt.

Ông Minh cho biết, qua thời gian, nhiều nhà cổ đẹp vốn là công trình tạo nên diện mạo riêng của làng đã xuống cấp, được sửa chữa, cơi nới hoặc thay thế bằng công trình mới. Sự mai một ấy khiến những người gắn bó lâu năm với Cự Đà không khỏi tiếc nuối.

Trong Quy hoạch tổng thể Thủ đô Hà Nội tầm nhìn 100 năm, "làng trong phố, phố trong làng" là một trong những tư tưởng cốt lõi, hướng tới sự hài hòa giữa đô thị hóa và bảo tồn bản sắc. Trong đó, "làng trong phố" đặt mục tiêu giữ lại những dấu ấn văn hóa làng xã như đình làng, lễ hội, nghề truyền thống, phong tục và các mối quan hệ cộng đồng trong quá trình phát triển đô thị.

Ông Minh mong Cự Đà được quy hoạch theo hướng này, để những ngôi nhà cổ, đình, chùa, nghề truyền thống và cấu trúc làng còn lại được gìn giữ. "Làng có thể đổi thay, nhưng những giá trị của cha ông để lại cần được bảo tồn cho thế hệ sau", ông chia sẻ.

Ảnh: Nguyễn Huy