![]() |
| Nhà thơ Văn Công (thứ 2 từ trái sang) về lại căn cứ Thồ Lồ thăm Ma Ngoe (thứ 3 từ trái sang). |
Ông vừa xuất bản tập trường ca “Năm tháng không quên”- cuốn sách thứ 15 trong sự nghiệp cầm bút của một người vẫn xem văn chương là nghề tay trái. Và trong câu chuyện với chúng tôi giữa những ngày tháng 4 lịch sử, với chất giọng xứ Nghệ nằng nặng, ông đưa chúng tôi trở về những ngày gian khó nhưng hào hùng của dân tộc, những ngày ông làm cán bộ giao liên...
Nhiệm vụ bất ngờ
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ, ông được lệnh ra Diêu Trì (Bình Định) để tập kết ra Bắc. Khỏi phải nói khi đó ông vui như thế nào. Vậy là đã tròn 8 năm, kể từ ngày có mặt trong đoàn quân Nam Tiến vào chiến đấu ở chiến trường Phú Yên, gắn bó với miền Tây của tỉnh, giờ ông sắp được về thăm lại vùng đất Diễn An, Diễn Châu, Nghệ An quê ông- vùng đất nghèo mà hiếu học, nơi có đền Cuông nổi tiếng, thờ An Dương Vương. Thế nhưng, có một sự kiện đã làm thay đổi cuộc đời ông.
Cuối tháng 11/1954, Khu uỷ Khu 5 tổ chức cuộc họp ngắn ngày tại Diêu Trì do đồng chí Võ Chí Công, đại diện Khu uỷ trực tiếp chủ trì. Lúc này, do địch khủng bố quá dữ, người đứng đầu Tỉnh uỷ Phú Yên lúc đó là đồng chí Lê Đài, Phó Bí thư Tỉnh uỷ và một số đồng chí Thường vụ Tỉnh uỷ Phú Yên phải tạm lánh trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nên cuộc họp bị chậm lại mấy hôm. Trong lúc loay hoay chưa tìm ra người vào chuyển lệnh và dẫn đường cho đồng chí Lê Đài , thì có đồng chí chợt nhớ đến ông- người đội trưởng vũ trang công tác 250, rất thông thạo địa hình miền Tây tỉnh Phú Yên. Vậy là ông được lệnh quay trở lại Phú Yên gấp.
Hơn 10 ngày mở đường, băng rừng, lội suối, cuối cùng ông cũng hoàn thành nhiệm vụ của một giao liên, đưa đồng chí Phó Bí thư Tỉnh uỷ và một số cán bộ bị lạc trên núi ra vùng tập kết an toàn. Sau thành tích ấy của ông, Tỉnh uỷ Phú Yên thấy rằng, trong tình hình lúc đó, công tác giao liên vô cùng quan trọng, nên đã quyết định giữ ông ở lại làm cán bộ giao liên chuyên trách đường dây bí mật từ Phú Yên ra đầu mối đường dây Khu 5 và các tỉnh Bình Định, Đắk Lắk, Gia Lai. Ông nói, nhìn chuyến tàu cuối cùng chở cán bộ tập kết ra Bắc, lòng ông không khỏi bâng khuâng, nhất là trên tàu có mang theo lá thư ông gửi người con gái mà dự định ra Bắc lần này sẽ làm lễ cưới.
Những con đường dài theo đất nước
Suốt 6 năm phụ trách đường dây bí mật (từ 1954-1960), để thuận lợi công tác, ông đã để tóc dài, quấn khố, lấy tên là Ma Pốp, Ma Xí, Ma Xong, thực sự sống cuộc sống đồng bào dân tộc thiểu số. Ông không nhớ mình đã đi qua bao cung đường, bao cây số. Chỉ nhớ rằng từ trạm Ma Dú ở căn cứ Thồ Lồ, huyện Đồng Xuân về Tỉnh uỷ, ra đầu mối đường dây liên khu cả đi và về mỗi chuyến mất 6 ngày. Mỗi tháng ông đi 3 chuyến.
Giữa núi rừng âm u, với một chiếc gùi, tấm ni lông, chiếc võng vải, hộp quẹt, sống nhờ cơ sở, nhờ củ rừng, rau rừng, nước suối, ông đã bền bỉ mở đường, bám đường, kịp thời chuyển tài liệu và đưa đón cán bộ từ khu vào, từ tỉnh ra. Ông cũng không nhớ đã bao lần giáp địch, bao lần đối mặt với cái chết. Có những lần, mà đến bây giờ kể lại với tôi, ông vẫn không tin vì sao mình vẫn còn sống.
Đầu tháng 1/1956, trong một chuyến công tác, Ma Tư- một đồng chí trong đường dây giao liên- rủ ông về nhà mình ở buôn Ma Ngoe, thuộc căn cứ Thồ Lồ ngủ lại. Không ngờ, một đại đội địch từ Vân Canh (Bình Định) xuyên rừng trong đêm, đi thẳng vào buôn. Địch đã đến rất sát, không thể thoát ra ngoài, nhưng nếu ở lại trong nhà sẽ bị bắt và cả buôn sẽ bị đốt, bị tàn sát. Trong lúc nguy cấp, cô con gái đầu lòng của Ma Tư là H’Ngoe mới 20 tuổi, vừa mới “ bắt” chồng, nảy ra sáng kiến: “Ma Pốp với tui phải làm giả vợ chồng mới thoát được!”. Vừa nói cô vừa ấn mạnh ông xuống sàn… Bọn lính lên cầu thang, rọi đèn pin, thấy cả nhà đang ngủ say, không nghi ngờ gì bèn sang sục sạo nhà khác.
Một lần khác, vào mùa lũ, nước sông dâng cuồn cuộn, ông lần theo sợi dây rừng sang bờ bên kia. Không may, sợi dây bị đứt, cuốn ông trôi theo dòng nước. Ông không nhớ là bị cuốn đi bao xa, chỉ biết khi tỉnh dậy thì đã nằm trong một lùm cây ven bờ. Rất may là tài liệu mang theo không hề hấn gì.
Lại một lần khác, trong khi mở đường, vô tình ông dính băng cung (bẫy thú rừng của đồng bào dân tộc thiểu số). Mũi lao làm bằng gỗ cứng bật khỏi cung, cắm thẳng vào ông. Rất may là nó cắm phải chiếc bi đông ông mang bên hông. Thật hú vía!
![]() |
| Ở tuổi 85, nhà thơ Văn Công vẫn miệt mài sáng tác về đề tài kháng chiến. |
Và những con đường đi mãi với cuộc đời
Trong hệ thống tổng, trạm, tổ giao liên ban đầu và ngành giao bưu của Phú Yên sau này, đã có hàng trăm chiến sỹ mãi mãi nằm lại với đại ngàn. Ngay ở trạm Ma Dú- Ma Choi do ông phụ trách cũng có đồng đội đã hi sinh. Họ hi sinh để giữ vững con đường kiên trung, bất khuất, con đường giao liên huyền thoại.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, dù ở cương vị nào: Bí thư Huyện uỷ, Phó Chủ tịch, rồi quyền Chủ tịch UBND tỉnh, hay đã về hưu, hễ có dịp là ông lại về với vùng căn cứ Thồ Lồ- Phú Mỡ. Ông nói, về để thăm lại núi rừng, thăm lại đồng bào, soi vào đó mà giữ vững lòng mình, phấn đấu không ngừng vì dân, vì Đảng. Ông sống một cuộc đời giản dị mà thanh thản. Sau khi chia tách tỉnh Phú Khánh, ông trả nhà ở TP Nha Trang, về lại Phú Yên. Có vị lãnh đạo gợi ý cấp lại ngôi nhà cho ông, nhưng ông từ chối…
Ông có nhiều việc làm tri ân với ngành Bưu điện. Một trong những việc làm của ông sau khi nghỉ hưu là tham gia biên soạn cuốn Lịch sử Bưu điện tỉnh Phú Yên. Trong số những tác phẩm của ông đã xuất bản, miền Tây Phú Yên luôn là đề tài chủ đạo. Và cũng theo đề xuất của ông và một số đồng chí, tỉnh Phú Yên đã hoàn tất hồ sơ đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho Ma Tư (tức Ma Ngoe)- một chiến sỹ giao liên trung kiên.
Có lẽ, dòng máu “giao liên” trong ông sẽ không bao giờ ngừng chảy...
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 51, 52, 53 ra ngày 28/4/2010.

