![]() |
| Ông Võ Duy Kinh (người đầu tiên từ trái sang) |
Trong chuyến thăm và dâng hương tại tượng đài Giao bưu thông tin liên lạc Dốc Miếu, Gio Linh, Quảng Trị cùng với Đoàn cơ sở của Bưu điện tỉnh Quảng Trị và Viễn thông Quảng Trị qua Võ Duy Phong - một bí thư Đoàn cơ sở đầy năng động sáng tạo nhiệt tình của Viễn thông Quảng Trị tôi được biết về ông Võ Duy Kinh - người giao bưu dũng cảm gắn liền với hình ảnh con đò và các dòng sông Quảng Trị. Võ Duy Phong chính là cháu nội của người giao bưu dũng cảm Võ Duy Kinh.
Ông Võ Duy Kinh sinh năm 1914. Với truyền thống gia đình yêu nước, ông đã sớm tham gia giành chính quyền tại địa phương từ tháng 8/1945 và năm 1948 ông vinh dự được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Sau đó ông gia nhập quân đội, làm giao bưu trên tuyến Cửa Việt, đưa đón cán bộ, chuyển phát công văn tài liệu bí mật ra Bắc vào Nam liên tục. Trong suốt thời kỳ đó, ông luôn đảm bảo bí mật đưa đón cán bộ, công văn an toàn tuyệt đối. Dũng cảm mưu trí tránh được sự kiểm soát ngặt nghèo của giặc, bảo vệ được nhiều cán bộ trên tuyến giao bưu này. Đặc biệt ông đã quan sát, điều tra sự hoạt động của địch trên sông, nắm bắt quy luật hoạt động của chúng, cung cấp cho bộ đội địa phương và bộ đội chủ lực, lập phương án đánh địch trên sông. Kết quả trận đánh đó thắng lớn, phá được tàu, tiêu diệt được hầu hết sỹ quan và binh lính địch trên tàu. Chiến công vang dội này được quân và dân Quảng Trị ghi vào sử sách trong thời kỳ chống Pháp như một huyền thoại. Ngoài ra, ông còn tham gia vận chuyển lương thực, vũ khí bằng đường biển nhiều chuyến từ Nghệ An, Hà Tĩnh vào Cửa Việt phục vụ chiến đấu.
Tháng 12/1956, ông được lệnh ra Vĩnh Linh làm phó Công an xã Vĩnh Lâm. Tháng 9/1959 ông được Đảng ủy đặc khu Vĩnh Linh giao nhiệm vụ làm giao liên trên tuyến Cửa Tùng - Cửa Việt - Cảng Mỹ Thủy (Hải Lăng) là tuyến đường giao liên trên biển đầu tiên của Quảng Trị. Giai đoạn này ông làm thuyền trưởng và tổ trưởng Đảng, trên danh nghĩa tập đoàn đánh cá Lộc Đức nhưng thực chất vẫn là đưa đón cán bộ, chuyển công văn tài liệu mật ra Bắc vào Nam. Năm 1960, ông được điều động đi B, trở về Quảng Trị và được phân công làm Giao bưu trên sông Ba Lòng. Suốt 12 năm ròng rã bám trụ trên tuyến giao liên, ông đã tỏ rõ bản lĩnh của một người anh hùng. Một mình ông với chiếc thuyền độc mộc, một khẩu súng AK, từng giờ từng phút đối mặt với kẻ thù: biệt kích, thám báo, trực thăng lúc nào cũng lùng sục, rình rập. Một mình đối mặt với thú dữ, mưa lũ thượng nguồn, với bệnh sốt rét rừng không thuốc men, phải chống chọi với chất độc màu da cam của địch. Trong 4.300 ngày đêm, tuyến giao liên của ông phụ trách luôn được thông suốt. Hàng ngàn cán bộ chiến sỹ được đưa đón an toàn. Năm 1971 trong một lần đi từ nơi ở ra chỗ giấu đò để đưa đón cán bộ qua sông, ông bất ngờ gặp thám báo Mỹ. Không một phút chần chừ, với tư thế sẵn sàng nhả đạn, ông đã tặng luôn cho bọn thám báo một băng đạn AK và tiêu diệt gần hết tốp thám báo (từ 5-8 tên). Sau lần đó ông được công nhận là Dũng sỹ diệt Mỹ. Một lần nước lũ quá lớn khó có thể vượt qua sông Ba Lòng nhưng vì có công văn "thượng khẩn" nên ông cột chặt túi công văn vào người, một mình vượt sông bằng con thuyền nhỏ. Nước lũ đã nhấn chìm cả thuyền và cuốn trôi ông hàng tiếng đồng hồ trong dòng nước dữ. ông may mắn bám được vào ngọn cây bên bờ và thoát chết. Đồng đội và nhân dân phát hiện ra ông và công văn "Thượng khẩn" đã kịp thời đưa về chiến khu. Sau đó mới biết đó là một thông tin quan trọng báo cho chiến khu Ba Lòng biết trước một trận càn lớn của Mỹ - Ngụy hòng tiêu diệt cơ quan lãnh đạo của Khu ủy Trị Thiên. Nhờ lòng quả cảm và tận tụy của ông mà các cơ quan cùng Khu ủy ở chiến khu Ba Lòng đã kịp thời sơ tán không thiệt hại gì.
Cuối năm 1971, trên đường đưa hai thương binh và một cán bộ từ sông Ba Lòng ra đường 9 để chuyển ra miền Bắc, ông bị mắc kẹt trong trận càn của Mỹ -Nguỵ ở vùng Cùa. Do trận càn kéo dài, lương thực, nước uống không còn nên hai thương binh và cán bộ kiệt sức. Trước sự sống chết do đói và khát, ông đã nảy ra quyết định táo bạo và vô cùng nguy hiểm cho tính mạng của mình là đến đêm bò vào bếp ăn dã chiến của lính Mỹ, lấy nước uống, thức ăn còn thừa để đưa về cứu sống thương binh, cán bộ. Nhờ đó, sau hai ngày càn quét, khi địch rút lui, ông tiếp tục đưa thương binh, cán bộ ra đường 9 an toàn (đây là một hành động anh hùng do hội nghị lão thành ngành Bưu điện kể).
Tháng 11/1971, ông bị thương trong một chuyến công tác. Tám mảnh bom đã găm vào cơ thể của ông. Vừa bị thương, vừa do công tác quá dài ngày trên tuyến, vừa bị ảnh hưởng của chất độc Đioxin nên sức khỏe của ông bị giảm sút nghiêm trọng. Vì vậy, ông đã được cấp trên quyết định đưa ra Quảng Bình an dưỡng trị bệnh. Tháng 12/1972, ông lại trở về Quảng Trị và phụ trách tuyến liên lạc Đông Hà - Cửa Việt thuộc ty Bưu điện Quảng Trị. Đến tháng 7/1977 ông về nghỉ hưu ở phường 5 thị xã Đông Hà, Quảng Trị.
Đến thăm nhà ông Võ Duy Chất, con trai ông Võ Duy Kinh tại Phường 5, Đông Hà, Quảng Trị, nguyên là Phó Bí thư thường trực tỉnh ủy Quảng Trị nhiệm kỳ 2001-2003 chúng tôi đã được xem rất nhiều huân, huy chương của ông Võ Duy Kinh. Những tấm huân huy chương đỏ thắm ghi dấu ấn một thời oanh liệt của người giao bưu cách mạng: Huy chương Quyết thắng hạng Nhất của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam năm 1967; Huân chương kháng chiến hạng Nhất năm 1985; Huy chương Kháng chiến hạng Nhất năm 1986; Giấy chứng nhận chiến sỹ thi đua năm 1967; Giấy chứng nhận về thành tích tham gia cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân năm 1968… ông cũng đã được trao tặng danh hiệu 40 năm tuổi Đảng, được ngành Bưu điện tặng huy chương " Vì sự nghiệp Bưu điện"...
Khát khao của bạn bè, gia đình và người thân của ông là Nhà nước sớm truy tặng danh hiệu AHLLVTND để ghi nhận công lao đóng góp của ông với sự nghiệp chống Mỹ cứu nước cũng như lịch sử của ngành Bưu điện Việt
Cuối năm 2006 Bưu điện tỉnh Quảng Trị đã làm thủ tục đề nghị truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân cho người giao bưu dũng cảm Võ Duy Kinh nhưng đến nay vẫn chưa được công nhận.
Bưu điện tỉnh Quảng Trị
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt
