Câu chuyện về Hoà thượng Thích Viên Hảo được trích dẫn từ tham luận của ThS Lê Văn Quang (cư sĩ Phước Minh), nguyên cán bộ Cục Trợ giúp Pháp lý, Bộ Tư pháp, tại hội thảo khoa học "Đạo Phật với Cách mạng Việt Nam" diễn ra sáng ngày 25/8/2025 tại Hà Nội nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9.

Đằng sau chiếc áo nâu và tiếng gõ mõ tụng kinh của nhà sư - chiến sĩ biệt động Sài Gòn

Năm 1965, khi lực lượng Biệt động Sài Gòn - Gia Định được hình thành với phiên hiệu F100, chùa Tam Bảo (nằm tại góc đường Trần Quốc Toản và Lò Siêu, TP.HCM) được Hòa thượng Thích Viên Hảo biến thành căn cứ cách mạng giữa nội thành, nơi tổ chức các cuộc họp của F100 dưới sự chỉ huy của Đại tá Nguyễn Đức Hùng (bí danh Tư Chu).

Để có nơi trú ẩn cho cán bộ, chiến sĩ khi bị truy đuổi, Hòa thượng từng thức trắng đêm, một mình đào hầm phía sau tượng Phật trong chánh điện, sau đó khuân từng thúng đất đi đổ, xóa dấu vết.

“Lợi dụng vận chuyển vật liệu, xe cộ ra vào thường xuyên, tôi đào hầm trong chùa để che giấu cán bộ và chứa vũ khí, đạn dược. Sau này tôi còn mở rộng hầm để hội họp, có thể tạm lánh lâu dài”, cố Hòa thượng Thích Viên Hảo từng kể.

Với vỏ bọc của một nhà tu hành, ông có thể đi qua nhiều nơi mà không bị nghi ngờ. Khi thì khất thực, khi bán nhang, bán tương hột để quan sát tình hình và thực hiện nhiệm vụ giao liên.

Giữa dòng người đông đúc hướng về nội đô, một nhà sư áo nâu thong thả hành đạo, gặp cảnh sát hay mật thám vẫn điềm tĩnh chắp tay: “A Di Đà Phật!”. Bên trong dáng vẻ bình thản ấy là một chiến sĩ biệt động đang vận chuyển vũ khí, đạn dược về cơ sở nội thành chuẩn bị cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân.

Những chuyến vận chuyển được thực hiện bằng những cách không ai ngờ tới. Để đưa súng cối 81 ly vào nội thành, với lý do vận chuyển vật liệu xây dựng chùa, ông dùng xe ba gác chở các ống cống xi măng giấu súng cối bên trong. Máy ngắm súng cối, kíp nổ... thì giấu trong những nia đậu tương.

Ban ngày, nhà sư đi thực địa, vận chuyển vũ khí; tối đến, ông vẽ sơ đồ những địa điểm quan trọng do địch chiếm đóng để phục vụ các trận đánh.

Biet dong Sai Gon.jpg
Biệt động Sài Gòn là một trong những lực lượng đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ cứu nước. Ảnh: Tư liệu TTXVN

Từ năm 1965 đến 1967, Hòa thượng tham gia nhiều trận đánh gây tiếng vang lớn, trong đó có trận đánh nhà hàng Mỹ Cảnh, Tổng nha cảnh sát, khách sạn Metropole, cư xá hỗn hợp Victoria, pháo kích vào lễ đài ngày Quốc khánh của chính quyền Sài Gòn và tấn công sân bay Tân Sơn Nhất.

Cuối năm 1967, khi chuẩn bị cho Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, Hòa thượng Thích Viên Hảo bị địch bắt, kết án đày ra nhà tù Phú Quốc.

Địch cho xe ủi tung chùa Tam Bảo để tìm vũ khí, đạn dược nhưng ngoài căn hầm bí mật, không phát hiện được những gì chúng muốn tìm. Ngôi chùa từng là căn cứ của lực lượng biệt động từ đó bị xóa tên.

Những ngày tháng trong nhà tù Phú Quốc tiếp tục là phép thử khắc nghiệt đối với nhà sư - chiến sĩ. Bị tra tấn tàn bạo, ông nhất quyết không khai tổ chức, đồng đội; không chào cờ địch, không phản bội cách mạng.

Điều đặc biệt, giữa chốn tù ngục, Hòa thượng vẫn giữ phong thái của một nhà tu hành. Ông niệm Phật, đọc kinh, chay tịnh và dùng những hiểu biết của mình để giáo dục những người lầm đường.

Tháng 3/1973, Hòa thượng cùng đồng đội được trao trả tại khu vực sông Thạch Hãn. Khi canô chạy quá nửa dòng sông, ông và những người được trao trả cùng nhảy xuống nước, bơi về bờ Bắc. Trước mắt họ là rừng cờ đỏ sao vàng, những người mặc quân phục giải phóng và dòng chữ chào mừng những người chiến thắng trở về.

Giữ trọn đạo pháp và lòng yêu nước

Hòa thượng Thích Viên Hảo tên khai sinh là Tô Văn Đời, còn có tên Tô Thế Bình, sinh năm 1932 tại Lai Vung, Sa Đéc, nay thuộc tỉnh Đồng Tháp. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống kính tin Tam Bảo, năm 11 tuổi, ông xuất gia với Hòa thượng Thích Giác Quang, khai sơn chùa Thất Bửu ở An Hảo, nay thuộc khu vực xã Núi Cấm, tỉnh An Giang. Ông được ban pháp danh Bổn Hòa, hiệu Viên Hảo, nối dòng Lâm Tế Trí Huệ đời 41.

Ngay từ nhỏ, ông từng chứng kiến cha mình là cụ Tô Công Bộ bị thực dân Pháp tra tấn vì bị tình nghi liên quan đến một cuộc đấu tranh chính trị của nhân dân năm 1930. Khi trở thành học tăng tại Phật học đường Nam Việt, ông tiếp tục chứng kiến sự tàn khốc của chiến tranh và sự hà khắc của chính quyền đương thời.

Từ những trải nghiệm ấy, Hòa thượng ngộ ra điều mà ông cho là cốt lõi của con đường tu hành: “Cốt là cứu khổ cứu nạn, không thể ngồi tu mà ngoài kia dân tình ai oán, khóc than”.

Từ đó, ông quyết tâm dấn thân vào con đường cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Sau ngày đất nước thống nhất, Hòa thượng Thích Viên Hảo tiếp tục phụng sự đạo pháp và dân tộc. Năm 1975, ông tham gia Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước TP.HCM. Năm 1981, ông là một trong 12 đại biểu của Ban Liên lạc Phật giáo yêu nước Thành phố tham dự Đại hội thống nhất các tổ chức Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội. Năm 1982, ông được suy cử Ủy viên Thường trực Ban Trị sự, kiêm Thủ quỹ Thành hội Phật giáo TP.HCM và sau đó được suy tôn Chứng minh Ban Trị sự Phật giáo Quận 1 cho đến ngày viên tịch.

Hoa thuong Thich Vien Hao.png
Di ảnh Hòa thượng Thích Viên Hảo thờ tại chùa Thiện Hạnh (nơi Hòa thượng trụ trì từ sau 30/4/1975).

Hòa thượng Thích Viên Hảo viên tịch ngày 15/7/2005. Ông được Đảng, Nhà nước trao tặng Huân chương Kháng chiến hạng Nhất, Huân chương Quyết thắng hạng Nhất và Kỷ niệm chương chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày.

"Cuộc đời Hòa thượng Thích Viên Hảo thể hiện rõ tinh thần nhập thế của người con Phật: một đời tu hành khiêm cung, giản dị nhưng khi đất nước cần thì sẵn sàng dấn thân, chấp nhận hiểm nguy, tù đày để phụng sự dân tộc", ThS Lê Văn Quang (cư sĩ Phước Minh, nguyên cán bộ Cục Trợ giúp  pháp lý, Bộ Tư pháp) đúc kết khi chia sẻ câu chuyện về nhà tu hành - chiến sĩ biệt động Sài Gòn năm xưa.

Giữa những ngày tháng Tám, trong không khí kỷ niệm Quốc khánh 2/9, câu chuyện về nhà sư - chiến sĩ Thích Viên Hảo gợi nhắc một lát cắt đặc biệt của lịch sử: Có những người khoác áo nâu, sống giữa chốn thiền môn nhưng đã dành những năm tháng đẹp nhất của cuộc đời cho cuộc đấu tranh giành độc lập, tự do của dân tộc.