
Từ ngôi chùa nhỏ ở Gò Công
Hòa thượng Thích Thiện Chiếu, thế danh Nguyễn Văn Tài, bút hiệu Xích Liên, sinh năm 1898 tại Gò Công (nay thuộc tỉnh Đồng Tháp) trong một gia đình có truyền thống yêu nước và sùng đạo Phật. Ông nội là Hòa thượng Huệ Tịnh – từng tham gia nghĩa quân chống Pháp của Trương Định.

Từ nhỏ, Hòa thượng Thích Thiện Chiếu đã sớm bén duyên cửa Phật, được nuôi dưỡng trong môi trường tu học: 16 tuổi thông tường Hán học và Quốc ngữ, giảng kinh, dạy chữ cho dân làng. Theo tìm hiểu của Thượng tọa Thích Thanh Phương, TS Bùi Hữu Dược (nguyên Vụ trưởng Vụ Phật giáo, Ban Tôn giáo Chính phủ) cùng các cộng sự công bố trên báo Công an TPHCM, trong quá trình này, sư Thích Thiện Chiếu sớm được tiếp xúc với các chí sĩ yêu nước, nổi bật là cuộc gặp với cụ Nguyễn Sinh Sắc – thân phụ Chủ tịch Hồ Chí Minh – người khuyên ông “muốn đánh đuổi được giặc phải hiểu giặc”. Từ đó, con đường tu hành của Thiện Chiếu gắn liền với ý thức trách nhiệm trước vận mệnh dân tộc.
Nhập thế và gánh vác trách nhiệm dân tộc
Những năm 1920, sư Thiện Chiếu lên Sài Gòn, trụ trì chùa Linh Sơn, đồng thời biến nơi đây thành không gian sinh hoạt văn hóa, giáo dục và lan tỏa tư tưởng tiến bộ. Ông chủ trương “Phật pháp không lánh đời”, kêu gọi tăng ni học tập, dấn thân, phản đối mê tín và lối tu hành thụ động.
Không dừng ở lời nói, sư Thiện Chiếu lập Hội Phật học kiêm tế, mở các lớp dạy học, in kinh sách, dịch thuật, xuất bản Tạp chí Tiến hóa, cùng các vị như: Hòa thượng Khánh Hòa, Thiện Niệm, Chơn Huệ... khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo. Năm 1927, ông được cử ra miền Bắc xúc tiến việc thống nhất Phật giáo toàn quốc - một việc lớn lao lúc bấy giờ, nhưng chưa thành công do những khó khăn khách quan.

Mặc dù vậy, ông không nản lòng. Trở về Nam, ông tiếp tục truyền lửa. Tại chùa Linh Sơn, rồi đến Hạnh Thông Tây (Gò Vấp), ông tổ chức thuyết giảng, mở Thư viện Phật học, phát hành Tập san Phật hóa tân thanh niên, kêu gọi tăng ni nhập thế, học hành và gánh vác trách nhiệm dân tộc.
Sách Tiểu sử Danh tăng Việt Nam thế kỷ XX có ghi lại: "Giới Phật tử cư sĩ và quần chúng khắp vùng Gia Định, Sài Gòn, Chợ Lớn đồng quy tụ về nghe pháp. Ngài mở khóa tranh biện về Phật học, viết sách, báo. Ngài thường tranh luận với các nhà Tây học trên báo chí, chẳng hạn như tờ Tân Phong. Tại Hạnh Thông Tây, quận Gò Vấp, tỉnh Gia Định, Ngài thường sinh hoạt chính trị với các nhà cách mạng, như ông Lê Văn Trâm tự Bảy Chấm, các nhà tu yêu nước như Hòa thượng Đạo Thanh...Uy tín của Ngài ngày càng lan rộng đến mọi tầng lớp nhân dân, từ bình dân đến trí thức. Các nhà lãnh đạo cách mạng ở địa phương đều quý kính".
Vị sư sớm đứng vào hàng ngũ Đảng
Sư Thiện Chiếu sớm tiếp cận tư tưởng cách mạng. Năm 1928, sau nhiều năm tiếp xúc với các nhà cách mạng, ông giác ngộ lý tưởng Mác - Lênin, gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Cuốn sách "Thiện Chiếu: Danh sư, trí thức cách mạng" (NXB Chính trị quốc gia Sự thật), đến năm 1930, sư Thiện Chiếu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam - vị sư đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Việt Nam đứng vào hàng ngũ Đảng Cộng sản.

Từ đây, ông kết nối đạo pháp với cách mạng, sử dụng chùa chiền làm nơi tuyên truyền tinh thần yêu nước, tổ chức các hoạt động xã hội, nuôi dưỡng cô nhi và hỗ trợ phong trào kháng chiến. Tại Rạch Giá, ông cùng Hòa thượng Trí Thiền lập Hội Phật học kiêm tế, vừa làm công tác xã hội vừa hoạt động bí mật.
Năm 1936, ông về Rạch Giá, cùng Hòa thượng Trí Thiền thành lập Hội Phật học kiêm tế tại chùa Tam Bảo, vừa thực hiện công tác xã hội như nuôi cô nhi, dạy học, vừa là tổ chức tiến bộ hoạt động bí mật dưới sự lãnh đạo của Đảng.
Năm 1940, hưởng ứng khởi nghĩa Nam Kỳ, ông tham gia tổ chức sản xuất vũ khí. Sau đó bị bắt, đày ra Côn Đảo, ông bị tra tấn nhưng tinh thần vẫn sáng suốt, tiếp tục tụng kinh, thuyết pháp, dạy chữ cho bạn tù.
Dấn thân trọn đời vì đạo và dân tộc
Cách mạng Tháng Tám thành công, ông được đón về đất liền, tham gia Ủy ban Hành chính - Kháng chiến tỉnh Gò Công, rồi công tác tuyên huấn tại các chiến khu 7, 8, 9.

Năm 1954, ông tập kết ra Bắc, giữ vai trò chuyên viên nghiên cứu tại Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam và từng làm Trưởng ban dịch thuật của Nhà xuất bản Ngoại văn tại Bắc Kinh (Trung Quốc).
Hòa thượng viên tịch năm 1974 tại Hà Nội, thọ 76 tuổi. Năm 1993, hài cốt của Hòa thượng Thích Thiện Chiếu được hỏa táng và đưa về tôn trí tại chùa Pháp Hoa - nơi ghi nhớ công lao của bậc chân tu yêu nước.

Di sản mà hòa thượng để lại không chỉ là hơn 10 tác phẩm Phật học mà còn là tư tưởng gắn đạo với đời, đặt Phật giáo trong mối quan hệ chặt chẽ với vận mệnh dân tộc như: Phật hóa tân thanh niên, Chân lý của Đại thừa và Tiểu thừa Phật giáo, Tại sao tôi cám ơn đạo Phật, Phật học vấn đáp, Phật giáo và Vô thần luận, Kinh Lăng Nghiêm (dịch), Kinh Pháp Cú (dịch)...

Tại TPHCM ngày nay có con đường mang tên đường Sư Thiện Chiếu tại phường Xuân Hòa để tưởng nhớ vị sư tiêu biểu cho tinh thần “đạo pháp đồng hành cùng dân tộc”.
Hoà thượng Thích Thiện Chiếu không chỉ là một nhà tu hành, một trí thức mà còn là một người chiến sĩ cách mạng, đã dấn thân trọn vẹn vì độc lập, tự do của đất nước.
