1.jpg
Chị Trần Thị Bình – Giám đốc Bưu điện Thái Bình.

Chị nói rằng lịch làm việc trong một ngày của chị, nhất là ngày mà tôi hẹn gặp chị là rất bận. Bởi chị vừa là một giám đốc, vừa là một nhân viên tiếp thị bán hàng. Thoạt nghe, tôi cho rằng chẳng qua chị ngại tiếp xúc với báo chí, nhưng gặp chị rồi, tôi mới thấy chị quả là con người của công việc.

Tôi muốn gặp chị vì chị đã từng được bình chọn là “Nữ doanh nhân tiêu biểu toàn quốc năm 2008” do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam bình chọn. Trước đây, tôi đã từng gặp chị khi chị còn đang là Giám đốc Bưu điện TP. Thái Bình (trực thuộc Bưu điện tỉnh Thái Bình). Từ tháng 12/2007, chị đảm nhiệm chức vụ Giám đốc Bưu điện tỉnh. Có thể nói, trước đây, Bưu chính luôn là mảng hoạt động mang lại ít lợi nhuận hơn viễn thông nên hầu như Bưu chính ít được đầu tư và chính vì thế mà làm Bưu chính khó khăn hơn rất nhiều. Sau khi chia tách, khó khăn với Bưu chính càng tăng lên gấp bội phần. Thế mà chị, với cương vị là Giám đốc, chị đã trải qua biết bao khó khăn vất vả để rồi, hai năm liên tục sau chia tách, Bưu điện tỉnh Thái Bình (BĐTB) đều hoàn thành vượt mức kế hoạch giao và là đơn vị có tinh thần đoàn kết cao.

Nói về những khó khăn, chị tâm sự: “Thời gian đầu sau chia tách, phải mất một thời gian khá dài để ổn định tư tưởng CBCNV cũng như về tổ chức. Hầu hết CBCNV đều lo lắng vì họ biết rằng ở Bưu chính thì thu nhập sẽ thấp hơn so với Viễn thông. Họ sợ nhất là trong thời buổi cạnh tranh mạnh mẽ này, không hiểu sẽ phải làm thế nào để đảm bảo được doanh thu…”. Chị đã phải mất khá nhiều thời gian để làm công tác tư tưởng cho CBCNV. Quan trọng hơn là chị đã phải trăn trở, mày mò tìm đường đi cho Bưu chính, không thể để tư tưởng ngồi chờ khách hàng đến như trước đây. Nếu vẫn để cơ chế lương cào bằng như trước khi chia tách thì không thể nào thúc đẩy được SXKD. Vì thế, chị đã bắt tay cùng với các đoàn thể, xây dựng cơ chế lương khoán theo doanh thu, sản phẩm. Hàng tháng, các bộ phận đều được giao doanh thu, sản phẩm, kể cả các bộ phận làm công tác quản lý, từ giám đốc như chị cho tới các CBCVN. Sau khi đánh giá kết quả thực hiện trong tháng, ai làm được nhiều sẽ hưởng nhiều, ai làm ít hưởng ít và cộng thêm chế độ thưởng cho các cá nhân, tập thể có kết quả SXKD cao. Nhờ đó, trong Bưu điện tỉnh, từ lãnh đạo đến nhân viên đều có chuyển biến rõ rệt về nhận thức. Đặc biệt, với cơ chế lương mới đã khuyến khích nhiều CBCVN thể hiện sự năng động, sáng tạo trong công việc.    

Cái khó thứ hai của BĐTB chính là trình độ chuyên môn của đội ngũ CBCVN còn yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu công việc. Đây cũng là một trăn trở lớn đối với chị. Với những CBCVN còn trẻ, việc đào tạo không mấy khó khăn, nhưng với những chị em tuổi cao lại là vấn đề lớn. Từ trăn trở đó, chị đã chủ động phối hợp với trường TH BCVT & CNTT mở nhiều lớp tập huấn cho đội ngũ sản xuất trực tiếp. Còn với đội ngũ cán bộ kỹ thuật, chị tạo điều kiện cho họ đi học đại học. Bản thân chị, mặc dù bù đầu với công tác quản lý nhưng chị vẫn dành thời gian cho học tập nâng cao trình độ. Các lớp tập huấn chuyên môn nghiệp vụ do VNPT tổ chức, chị đều tham gia rất đầy đủ. Chị cho rằng: “Học không bao giờ thừa, mình là lãnh đạo mà để thua kém CBCNV của mình về nghiệp vụ và trình độ chính trị thì làm sao mình lãnh đạo nổi. Hơn nữa, mình phải là tấm gương để anh em soi vào…”

“Trong cái khó, ló cái khôn”, điều đó rất đúng với hoàn cảnh của BĐTB. Kinh doanh cái gì, làm như thế nào để có nguồn thu…? Từ đó, chị đã mạnh dạn liên kết với các công ty trong Ngành để đầu tư mở rộng quy mô các dịch vụ truyền thống, phát triển các dịch vụ mới và liên kết với các đơn vị ngoài Ngành làm đại lý cung cấp dịch vụ; tập trung nguồn vốn để đầu tư trang thiết bị mới cho SXKD. Đặc biệt, chị đã phát động phong trào thi đua sáng kiến cải tiến kỹ thuật, từ đó, CBCNV phát huy được tính sáng tạo. Cụ thể, trong năm 2008, đơn vị của chị đã có 16 sáng kiến và năm 2009 có 13 sáng kiến được áp dụng vào công việc hàng ngày, đem lại lợi ích cao. Trong hai năm liền 2008 - 2009, doanh thu của đơn vị tăng từ 5-7% KH giao, BĐTB liên tục được Bộ TT & TT tặng Cờ Thi đua xuất sắc.   

1.jpg
Chị Bình dự Hội nghị DN VN tại Hà Nội do VCCI tổ chức.

Trong công tác chuyên môn, nữ giám đốc Trần Thị Bình luôn cương quyết, sâu sát, còn trong cuộc sống đời thường, chị đã thực sự là người chị, người em của đồng nghiệp trong đơn vị. Trong môi trường công tác của Bưu chính nói chung và BĐTB nói riêng là môi trường có rất đông phụ nữ, nhưng đó lại là môi trường đoàn kết, thân ái. Chị Bình luôn biết sẻ chia, đồng cam cộng khổ, lắng nghe ý kiến mọi người. Ngoài ra, chị là giám đốc rất quan tâm đến chính sách đối với người lao động như nâng lương, nâng bậc, khám chữa bệnh, tham quan, du lịch… Tất cả mọi chế độ, chính sách, chị đều thực hiện rất công khai, dân chủ. Chính vì thế, từ khi thành lập đến nay, Bưu điện tỉnh Thái Bình đã chấm dứt hẳn tình trạng khiếu kiện trong nội bộ. Điều đó được thể hiện qua kết quả các kỳ ĐHCNVC của đơn vị, nữ giám đốc đều có số phiếu tín nhiệm từ 95% trở lên.

Chị có một gia đình thật hạnh phúc. Chồng chị luôn là chỗ dựa tin tưởng và ủng hộ chị mỗi khi chị gặp khó khăn trong công tác. Dường như hiểu được sự tận tụy, say mê công việc của chị nên chồng chị luôn đảm trách những công việc gia đình mỗi khi chị bận bịu và ngược lại, ngoài thời gian ở cơ quan, chị cũng luôn dành thời gian để chăm chút cho tổ ấm của mình. Chồng và hai cậu con trai (một đang học năm cuối ĐH Giao thông vận tải, một đang học phổ thông) luôn là niềm tự hào và chỗ dựa vững chắc của chị.

Tâm sự với một số đồng nghiệp của chị trong đơn vị, ai cũng đánh giá cao về chị, rằng chị là người lãnh đạo cương quyết, sát sao; chị là giám đốc chu đáo, ân cần nhưng chân chất, giản dị; chị là giám đốc dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm…Có lẽ qua một số lần tiếp xúc với chị trước đây và qua cuộc trò chuyện trực tiếp với chị, đặc biệt, qua các báo cáo tổng kết năm của BĐTB, người viết bài này có cảm nhận khá sâu sắc rằng: Đồng nghiệp của giám đốc Trần Thị Bình đã không quá đề cao chị. Đó là những cảm nhận từ chính tâm hồn chân thực và trong sáng của những con người trên quê hương “năm tấn” thuở nào.

Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số tháng 2/2010.