![]() |
| Nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện Mai Liêm Trực. |
10 năm sau Hiệp định thương mại Việt - Mỹ:
Báo Bưu điện Việt Nam đã có bài phỏng vấn ông Mai Liêm Trực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Bưu điện xung quanh việc ký Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, từ quá trình đàm phán đến những tác động của hiệp định này với lĩnh vực viễn thông của Việt Nam.
Để hàn gắn và tiến tới bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ, các doanh nghiệp viễn thông Mỹ đóng vai trò gì đối với Chính phủ của họ thưa ông?
Năm 1986, khi đất nước bắt đầu đổi mới thì TCBĐ đã có nhiều quyết định táo bạo. Thứ nhất, về mặt tư duy sẽ không còn theo kiểu tư duy bao cấp, tức là không dựa vào nhà nước. Từ 1985 về trước, TCBĐ chủ yếu là xin tiền nhà nước để đầu tư. Nhưng từ lúc bắt đầu đổi mới, TCBĐ thấy rằng phải “tự làm, tự sống” nên mở cửa ra để huy động các nhà doanh nghiệp nước ngoài đầu tư vào viễn thông. Thứ hai, kinh doanh được định hướng theo chiến lược “lấy ngoài nuôi trong”, tức là lấy doanh thu ngoại tệ từ viễn thông quốc tế để đầu tư trong nước. Thứ ba, phải tăng cường các tổng đài ở Hà Nội, Đà Nẵng hay TP.Hồ Chí Minh nhằm tăng lượng người sử dụng.
Mỹ cấm vận Việt Nam trên ba lĩnh vực: kinh tế, công nghệ, viễn thông. Trong đó, lệnh cấm vận viễn thông giữa Việt Nam và Mỹ là vô lý nhất vì đó là vấn đề về nhân đạo. Thời điểm đó, TCBĐ đã vận động các doanh nghiệp Mỹ như Motorola, AT&T, MCI, Sprint.. đấu tranh với chính phủ Mỹ để xóa bỏ cấm vận với Việt Nam. Tôi rất mừng vì những người của AT&T rất thiện chí trong việc này. Ngày 1/4/1992, Mỹ bỏ cấm vận viễn thông đối với Việt Nam. Và chỉ 1 tuần sau, Việt Nam mở liên lạc ngay với Mỹ.
Khi tiến hành bình thường hóa quan hệ với Việt Nam, về mặt viễn thông, các công ty Mỹ rất được lợi: Cái lợi thứ nhất là mỗi năm, AT&T, MCI, Sprint… thu được mấy chục triệu USD từ những cuộc điện thoại của người Việt Nam ở Mỹ gọi về nước. Cái lợi thứ hai: các công ty Motorola, AT&T Network Systems có thể bán thiết bị cho Việt Nam. Tuy nhiên, do bị chính phủ Mỹ cấm vận nên việc bán thiết bị và đầu tư viễn thông của các doanh nghiệp Mỹ vào Việt Nam bị chậm hơn so với những nước khác. Khi đó, Siemens, Alcatel, Ericsson hay LG… đã chiếm hầu hết thị phần thiết bị tổng đài, viba ở Việt Nam. Nhưng việc mở liên lạc với Mỹ là thành công nhất vì có những năm các cuộc gọi đi Mỹ chiếm 40% - 50% lưu lượng gọi đi quốc tế của chúng ta.
Sau khi bình thường hóa quan hệ, chúng ta tiến đến ký kết Hiệp định Thương mại Việt - Mỹ, viễn thông lại trở thành điểm “nóng” trong đàm phán giữa hai bên. Vậy TCBĐ đã giải bài toán này ra sao?
Năm 1996, bắt đầu những phiên đầu tiên đàm phán về Hiệp định thương mại giữa hai nước. Đến năm 1998 thì chính thức đàm phán về lĩnh vực viễn thông, quá trình này rất gay go về cả hai phía. Phía Mỹ yêu cầu mở cửa thị trường viễn thông Việt Nam 100%, tức là về mặt sở hữu có thể có doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được sở hữu mạng lưới và khai thác dịch vụ ở Việt Nam. Rõ ràng đây là yêu cầu gây “sốc” đối với chúng ta.
Còn về phía Việt Nam, khó khăn là có quá nhiều lo ngại khi mở cửa thị trường, kể cả thị trường trong nước và nước ngoài. Điều đáng ngại đầu tiên là các doanh nghiệp của Việt Nam sẽ “chết” do doanh nghiệp Mỹ mạnh về vốn, có kinh nghiệm, công nghệ hiện đại. Thứ hai là lo ngại về vấn đề an toàn, an ninh trong thông tin.
Việt Nam đánh giá 2 lĩnh vực nhạy cảm nhất trong quá trình đàm phán là viễn thông và ngân hàng, còn những vấn đề khác có thể nhượng bộ. Chính vì thế đã xuất hiện nguy cơ kéo dài quá trình đàm phán Hiệp định này. Trước tình hình đó, Tổng cục nghiên cứu rất kỹ các điều khoản của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) về viễn thông mà các nước đã ký kết; xác định lộ trình để mở cửa thị trường viễn thông trong nước và quốc tế.
Tổng cục cho rằng phải mở cửa thị trường trong nước trước để các doanh nghiệp Việt Nam “tập sự” trước khi có cạnh tranh quốc tế. Trong quá trình đàm phán thương mại Việt - Mỹ, Tổng cục vừa phải đàm phán với các đối tác Mỹ vừa phải thuyết phục được chính phủ Việt Nam rằng lộ trình và giải pháp như thế này là đảm bảo có lợi cho Việt Nam.
Theo nhận định của ông những điều khoản Việt Nam đàm phán trong Hiệp định thương mại Việt - Mỹ có đi theo đúng kịch bản không?
Các điều khoản trong quá trình đàm phán đúng như kịch bản tôi dự báo trước nên tôi không hề lo lắng. Thường vụ Bộ Chính trị đã gọi tôi lên để giải trình lần cuối về những cái “khóa” đảm bảo lợi ích quốc gia và thấy rằng có thể ký kết. Lúc đó tôi tâm niệm rằng nếu mình bảo thủ, không ký kết Hiệp định thương mại Việt - Mỹ sẽ là thiệt thòi rất lớn cho đất nước. Và chính mình đã cản trở sự phát triển chung của đất nước. Thực tế đã chứng minh các doanh nghiệp Việt Nam khi mở cửa cạnh tranh đã lớn mạnh lên rất nhiều.
Chúng ta lo lắng nhất về phần viễn thông nhưng thực tế sau khi ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ thì các doanh nghiệp viễn thông Mỹ vào Việt Nam ở mức khiêm tốn, thậm chí còn bị các doanh nghiệp CNTT của Mỹ “qua mặt” như Intel. Ông nghĩ sao về điều này?
Tôi cho rằng, các doanh nghiệp Mỹ chưa đầu tư ồ ạt vào Việt Nam do bản thân họ bị cấm vận nên chậm chân hơn các nước khác. Và khi hai bên ký Hiệp định Thương mại thì công nghệ viễn thông của những nước khác không thua kém gì Mỹ. Ngay chính Mỹ cũng không coi thị trường viễn thông Việt Nam là một cái gì quá lớn với họ.
Về việc đầu tư giữa viễn thông và CNTT có những đặc điểm khác nhau. Thứ nhất, doanh nghiệp trong lĩnh vực CNTT có thể có 100% vốn nước ngoài nhưng viễn thông thì ở cả Hiệp định thương mại Việt - Mỹ cũng như WTO chưa thể có doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Thứ hai là với lĩnh vực CNTT, các doanh nghiệp Mỹ muốn dùng Việt Nam để sản xuất ra sản phẩm tiêu thụ ở những thị trường khác. Nhưng với lĩnh vực viễn thông, chuyện đó khó khăn hơn.
Ngoài ra, tôi cho rằng về lĩnh vực viễn thông tuy các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các Hiệp định thương mại Việt - Mỹ và WTO đã mở ra nhưng khi triển khai chưa tạo điều kiện tận dụng các ưu việt của thời kỳ hội nhập để có những công nghệ, dịch vụ, đào tạo của Mỹ.
Sau 10 năm thực hiện Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, khi nhìn lại ông có thấy sự lo lắng hồi đó là thái quá không? Ông đánh giá gì sau khi hai bên thực thi Hiệp định này?
Đúng là sự lo lắng hồi đó là thái quá. Chúng ta nặng về đối phó hơn chủ động, tức là co cụm, là giữ không được thì mở, theo tôi phải chủ động mở ra để đón đầu cái mới. Và phải thừa nhận rằng có được quá trình đàm phán gia nhập WTO là nhờ sự thành công của Hiệp định thương mại Việt - Mỹ.
Sau 10 năm ký Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, về viễn thông tôi cho rằng Việt Nam chỉ có lợi chứ chưa thấy có gì bất lợi. Trong quyết định thỏa thuận đàm phán giữa hai bên, viễn thông không phải là một cản trở. Nếu Hiệp định thương mại Việt - Mỹ không được ký kết thì Việt Nam không thể vào được WTO. Mười năm vừa qua nhìn lại, tôi có thể khẳng định rằng, đó là một quyết định dũng cảm.
Xin cảm ơn ông!
35 năm sau chiến tranh, 35 năm đã trôi qua kể từ ngày người lính Mỹ cuối cùng rút khỏi Việt Nam. Trải qua bao đau thương của chiến tranh cùng những năm tháng khó khăn bởi bao vây cấm vận rồi vươn mình đổi mới, Việt Nam hôm nay đã khẳng định được vị thế của mình trên trường quốc tế. Một vị thế vững vàng được xây dựng trên nền tảng ở cả chính trị, ngoại giao, kinh tế, văn hóa - xã hội, an ninh - quốc phòng.
Và chính người Mỹ đã trở lại, đóng góp cho sự phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. 15 năm sau khi bình thường hóa quan hệ Việt - Mỹ (tháng 7/1995), quan hệ giữa hai quốc gia đã được đẩy lên một tầm cao mới, mở rộng trên rất nhiều lĩnh vực: thương mại, đầu tư, giáo dục… Ngày 13/7/2000, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được ký kết càng thúc đẩy sự hợp tác kinh tế giữa hai quốc gia. BĐVN xin điểm lại một số thành tựu đó.
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 51, 52, 53 ra ngày 28/4/2010.
