Khi xây dựng chính sách cho vùng dân tộc thiểu số, tôi nghĩ câu hỏi đầu tiên không phải lúc nào cũng nên là: “Nhà nước sẽ mang gì đến cho đồng bào?”. Có lẽ nên hỏi thêm: “Đồng bào đang có gì mà đất nước chưa nhìn thấy hết giá trị?”...
LỜI TÒA SOẠN
Trong hành trình phát triển đất nước, tri thức của đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là di sản cần gìn giữ, mà còn là nguồn lực có thể tạo ra những giá trị mới khi được kết nối với khoa học, công nghệ và thị trường.
Từ câu chuyện ruộng bậc thang, cây thuốc, rừng thiêng đến chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, PGS.TS Bế Trung Anh - đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa 16; ủy viên thường trực Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa 15 - gợi mở một cách nhìn khác về vai trò của trí thức dân tộc: Không chỉ đi ra để thành công, mà còn phải biết đưa những giá trị của cộng đồng mình bước vào dòng chảy phát triển hiện đại.
Trong thời đại chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo, theo ông, đâu là cơ hội và thách thức lớn nhất đối với đội ngũ trí thức dân tộc trong việc khẳng định vai trò của mình? Đâu là “điểm nghẽn” khiến một bộ phận trí thức dân tộc chưa phát huy hết tiềm năng?
AI có một đặc tính rất thú vị: nó có thể làm khoảng cách địa lý nhỏ đi rất nhanh, nhưng cũng có thể làm khoảng cách tri thức lớn lên rất nhanh.
Một người trẻ ở vùng cao hôm nay có thể tiếp cận kho tri thức mà trước đây phải đến những đại học lớn mới có. Đó là cơ hội chưa từng có.
Nhưng có một nghịch lý: AI biết rất nhiều về thế giới, lại có thể biết rất ít về một dân tộc vài nghìn người nếu ngôn ngữ, văn hóa và tri thức của cộng đồng ấy chưa từng được số hóa.
Vì vậy, tôi cho rằng điểm nghẽn lớn không chỉ là thiết bị hay đường truyền. Điểm nghẽn sâu hơn là năng lực biến tri thức của mình thành dữ liệu và biến dữ liệu thành giá trị.
Nếu chúng ta không làm việc ấy, thế giới số vẫn phát triển, nhưng một phần ký ức của các cộng đồng có thể đứng ngoài thế giới đó.
Còn nếu làm được, trí thức dân tộc không chỉ sử dụng AI. Họ có thể giúp AI hiểu Việt Nam đầy đủ hơn.
PGS.TS Bế Trung Anh.Ảnh: Thạch Thảo
Một người trí thức không còn chỉ thành công cho riêng mình
Trong quá trình nghiên cứu và tiếp xúc với đồng bào các dân tộc, có khi nào ông gặp một nhân vật bình dị nhưng khiến ông thay đổi cách nhìn về khái niệm “trí thức” hay không?
Có. Nhưng tôi muốn trả lời câu này bằng một hình ảnh mà tôi đã gặp đi gặp lại trong những năm làm công tác nghiên cứu về dân tộc, hơn là kể tên một con người cụ thể.
Ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, có những người già mà nếu nhìn theo hồ sơ hành chính thì họ hầu như không có “học vị” nào đáng kể. Nhưng hãy cùng người ấy bước vào rừng.
Điều làm tôi suy nghĩ không phải là họ “biết nhiều”. Mà là tri thức ấy không tồn tại thành từng môn học tách rời. Đất, rừng, tín ngưỡng, đạo đức, quan hệ cộng đồng và sinh kế nối với nhau thành một hệ thống.
Họ có thể gọi tên hàng chục, hàng trăm loài cây bằng tiếng mẹ đẻ; biết cây nào dùng chữa bệnh, cây nào chỉ mọc ở nơi có nước ngầm, khu rừng nào được khai thác và khu rừng nào tổ tiên đã dặn tuyệt đối không được động tới. Họ nhớ gia phả, luật tục, những câu chuyện thiên di, cách phân xử một tranh chấp và cả những dấu hiệu rất nhỏ báo trước sự thay đổi của thời tiết.
Điều làm tôi suy nghĩ không phải là họ “biết nhiều”. Mà là tri thức ấy không tồn tại thành từng môn học tách rời. Đất, rừng, tín ngưỡng, đạo đức, quan hệ cộng đồng và sinh kế nối với nhau thành một hệ thống.
Khoa học hiện đại thường chia thế giới ra để nghiên cứu thật sâu. Tri thức bản địa nhiều khi lại giữ thế giới trong tính toàn thể của nó.
"Ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, có những người già mà nếu nhìn theo hồ sơ hành chính thì họ hầu như không có “học vị” nào đáng kể. Nhưng hãy cùng người ấy bước vào rừng"...
Từ đó, tôi thận trọng hơn khi dùng chữ “trí thức”. Một tấm bằng chứng nhận con người đã bước qua một hệ thống đào tạo; nhưng nó không phải giấy chứng nhận duy nhất của trí tuệ.
Điều đáng lo là khi một người như vậy mất đi mà không có người kế tục, chúng ta không chỉ mất một con người. Có khi một thư viện chưa từng được viết thành sách cũng đóng cửa theo.
Có những câu chuyện nào về những người trẻ dân tộc mà ông từng gặp khiến ông tin rằng nếu được trao cơ hội, họ có thể trở thành những nhân tố tạo ra sự thay đổi cho quê hương?
Tôi nghĩ đến TS Bàn Tuấn Năng, một trí thức người Dao. Điều làm tôi chú ý ở Năng không phải trước hết là học vị tiến sĩ, mà là cách anh ấy đi từ bản sắc của dân tộc mình ra những vấn đề rất hiện đại.
Từ nông sản đến thương mại điện tử, từ sinh viên đến cộng đồng, từ bản sắc đến kinh tế - khi những mối nối ấy hình thành, một người trí thức không còn chỉ thành công cho riêng mình. Anh ta bắt đầu tạo ra khả năng phát triển cho những người xung quanh.
Năng nghiên cứu khá sâu về văn hóa Dao, trong đó có lễ cấp sắc, tín ngưỡng và lịch sử văn hóa của người Dao. Nhưng anh không dừng ở việc “nghiên cứu người Dao”. Anh cùng cộng đồng xây dựng nhóm “Người Dao Việt Nam - Gắn kết từ bản sắc”, đặt câu hỏi làm thế nào để văn hóa trở thành nguồn lực chứ không chỉ là thứ được bảo tồn trong lễ hội hoặc bảo tàng.
Tôi nhớ một việc rất đời thường. Trong thời gian dịch COVID-19, khi nông sản miền núi khó tiêu thụ và nhiều sinh viên Dao ở Hà Nội gặp khó khăn, Năng tổ chức bán nông sản của bà con qua mạng. Những sinh viên Dao được tham gia bán hàng, giao hàng, vừa có thu nhập vừa học kỹ năng giao tiếp, kinh doanh. Một đầu là con lợn, mớ rau, sản vật từ bản; đầu kia là người tiêu dùng thành phố; ở giữa là công nghệ và một trí thức biết kết nối.
Tôi thích câu chuyện ấy bởi nó trả lời chính câu hỏi chúng ta đang bàn.
Trí thức dân tộc thời đại mới không nhất thiết phải làm những điều thật lớn lao. Đôi khi họ chỉ cần nhìn thấy một giá trị mà người khác chưa nhìn thấy, nối những thứ trước đây đứng rời nhau lại với nhau.
Từ nông sản đến thương mại điện tử, từ sinh viên đến cộng đồng, từ bản sắc đến kinh tế - khi những mối nối ấy hình thành, một người trí thức không còn chỉ thành công cho riêng mình. Anh ta bắt đầu tạo ra khả năng phát triển cho những người xung quanh.
"Trí thức dân tộc chính là những người có khả năng làm cho kho báu vô hình bước vào cuộc đối thoại với khoa học, công nghệ và tương lai. Ảnh: Thành Đạt
Việc cần làm không phải là “hiện đại hóa” bằng cách xóa đi
Trong vai trò của một nhà nghiên cứu và một Đại biểu Quốc hội, ông đã từng chứng kiến trường hợp nào mà một sáng kiến, một ý tưởng hoặc một cách làm xuất phát từ cộng đồng địa phương tạo ra tác động tích cực cho phát triển kinh tế - xã hội?
Có rất nhiều. Nhưng nếu phải chọn một điều khiến tôi suy nghĩ lâu nhất thì đó lại không phải một dự án hiện đại.
Ở nhiều cộng đồng dân tộc thiểu số, có những khu rừng được gìn giữ qua nhiều thế hệ mà trước đây gần như không cần đến camera, hàng rào hay một lực lượng kiểm tra chuyên nghiệp. Người dân không chặt cây ở đó bởi họ coi đó là rừng thiêng, rừng đầu nguồn, nơi gắn với tổ tiên hoặc những quy ước của cộng đồng.
Đại biểu Quốc hội Bế Trung Anh. Ảnh: Hà Giang
Nếu nhìn bằng con mắt hành chính đơn thuần, chúng ta có thể gọi đó là tín ngưỡng hay phong tục.
Nhưng nếu nhìn bằng khoa học quản trị hiện đại, phía sau nó là cả một thiết chế quản trị tài nguyên: có ranh giới, có quy tắc, có người giám sát, có chế tài xã hội và đặc biệt có một hệ giá trị khiến con người tự nguyện tuân thủ ngay cả khi không có người của Nhà nước đứng đó.
Tôi rất quan tâm đến điều này, bởi đôi khi chúng ta bỏ rất nhiều nguồn lực để xây dựng một cơ chế quản lý mới trong khi một cơ chế quản trị rất hiệu quả đã tồn tại hàng trăm năm trong cộng đồng. Việc cần làm không phải là “hiện đại hóa” bằng cách xóa nó đi, mà là tìm cách để luật pháp, khoa học và công nghệ nhận diện, hỗ trợ và làm cho nó mạnh hơn.
Câu chuyện tương tự có thể nhìn thấy ở ruộng bậc thang, giống cây bản địa, y dược dân gian, nghề thủ công hay những quy ước chia sẻ nguồn nước. Rất nhiều thứ hôm nay chúng ta gọi bằng những khái niệm mới như kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, quản trị cộng đồng, phát triển bền vững… thực ra đã có những mầm mống rất lâu trong cách sống của đồng bào.
Vì thế, khi xây dựng chính sách cho vùng dân tộc thiểu số, tôi nghĩ câu hỏi đầu tiên không phải lúc nào cũng nên là: “Nhà nước sẽ mang gì đến cho đồng bào?”.
Có lẽ nên hỏi thêm: “Đồng bào đang có gì mà đất nước chưa nhìn thấy hết giá trị?”. Và tôi muốn kết thúc cuộc trao đổi này bằng một suy nghĩ như vậy.
Một cộng đồng không chỉ sở hữu đất đai, rừng núi hay những sản vật có thể nhìn thấy. Họ còn sở hữu ký ức, tri thức và những cách hiểu thế giới đã được chắt lọc qua nhiều thế hệ. Trí thức dân tộc chính là những người có khả năng làm cho kho báu vô hình ấy bước vào cuộc đối thoại với khoa học, công nghệ và tương lai.
Phát triển, vì thế, không phải là mang ánh sáng từ nơi khác đến một bản làng còn tối. Có những cột đèn đã cháy sáng ở đó hàng trăm năm. Việc của chúng ta là nhận ra, tiếp thêm năng lượng và để những ngọn đèn ấy cùng soi sáng con đường phát triển của đất nước.