Chỉ khi có được đôi cánh xúc cảm – khai sáng mạnh mẽ, dân tộc Việt Nam mới có thể cất cánh với bứt phá kỳ diệu, để bước vào một giai đoạn phát triển kỳ vĩ mà ngàn năm còn tự hào.
Nghĩ về tầm mắt đại bàng của
tư duy
Cảm xúc của tôi về ngày Độc lập của dân tộc là rất trăn trở và day dứt. Thế hệ
chúng ta hôm nay có lỗi rất lớn với đất nước và thế hệ cha anh. Người có quyền
chức thì coi vị trí mình đang có là món lợi đặc quyền chứ không phải trách nhiệm
rất khó khăn phải cùng toàn dân chia sẻ gánh vác.
![]() |
|
Ảnh: Giản Thanh Sơn |
Người không có quyền chức thì
tự coi mình như đứng ngoài cuộc trong sự mặc cảm, oán thán. Thể chế thì không
thôi thúc tinh thần “Tổ quốc lâm nguy, thất phu hữu trách”. Kết cục là, cả xã
hội đang ở trong vòng xoáy đi xuống (vicious cycle) của sự vô cảm, lối sống chụp
giật, và lòng nghi kỵ. Sức mạnh hào hùng của ý chí xây dựng một Việt Nam hùng
cường đã từng cháy bỏng trong tim óc thế hệ làm nên cách mạng tháng Tám nay
dường như trở nên xa lạ và đi dần vào dĩ vãng.
Tôi đang cho ra đời cuốn sách Việt Nam hành trình đi đến phồn vinh (NXB Tri Thức
ấn hành). Khi nói tới công cuộc phát triển như một “hành trình đi đến phồn
vinh”, tôi muốn nhấn mạnh ba điều kiện tiên quyết cho sự thành công của sự
nghiệp to lớn này. Thứ nhất, đó là mục tiêu đi tới và nguyên lý hành động phải
rõ ràng, nhất quán, và thôi thúc. Thứ hai, đó là sự thấu hiểu của những người
chịu trách nhiệm chèo lái về điều kiện hiện tại, qui luật khách quan, và xu thế
phát triển, bao gồm cả khách quan và chủ quan, thách thức và thuận lợi. Thứ ba,
đó là khả năng quan sát học hỏi và vươn lên không ngừng với “tầm mắt đại bàng
của tư duy”.
Con đường đi đến phồn vinh của một dân tộc là hành trình tới một mục tiêu thôi
thúc; nó cũng là công cuộc cải biến phi thường và là một chuỗi liên tục những
thử nghiệm đột phá và bước đi sáng tạo. Vì vậy những lối tư duy làm cái tâm ích
kỷ, làm cái tầm hạn hẹp, và làm cái tài bị thui chột cần được dũng cảm loại bỏ.
Tôi luôn thấy lòng mình ngập tràn cảm kích về dân tộc Nhật Bản mỗi lần đọc lại
năm lời tuyên thệ của vua Minh Trị trước công chúng tháng 4.1868, tạm dịch như
sau: 1. Các hội đồng suy xét sẽ được thành lập khắp nơi và mọi vấn đề sẽ được
quyết định qua thảo luận của công chúng; 2. Mọi tầng lớp nhân dân, dù ở vị thế
nào, sẽ muôn lòng như một trong thực hiện mạnh mẽ công cuộc quản trị đất nước.
3. Người dân bình thường, không kém quan trọng hơn quan chức nhà nước hay sĩ
quan quân đội được khích lệ theo đuổi mọi ước mơ mà lòng mình thôi thúc để sự
bất bình xã hội không còn chỗ đứng. 4. Những hủ tục của quá khứ sẽ bị loại bỏ và
mọi việc sẽ được dựa trên qui luật công bình của trời đất. 5. Tri thức sẽ được
truy tìm khắp nơi trên thế giới để gia cường sức mạnh quốc gia. (1)
Tôi ước mong sớm thấy một ngày được nghe lời tuyên thệ thiêng liêng và thôi thúc
của lãnh đạo Việt Nam, tạo nền móng khởi đầu cho một công cuộc cải cách vĩ đại
xây dựng một đất nước hùng cường mà thế hệ chúng ta hôm nay không thể thoái thác
trong thế kỷ trỗi dậy này của châu Á.
Phát đạt hay phát triển?
Phải nhận thấy rằng, chúng ta khó phồn vinh nếu trọng phát đạt hơn phát triển.
Phát đạt nói tới sự khá giả về vật chất, danh vọng xã hội, và điều kiện thuận
lợi mà một cá nhân được thụ hưởng. Phát triển liên quan đến sự trưởng thành của
cá nhân về nhân cách, năng lực hành động, và ý thức trách nhiệm với cộng đồng.
Phát triển phải là tiền đề và nền móng cho phát đạt. Phát đạt dựa trên nền tảng
phát triển sẽ bền vững và giàu ý nghĩa vì nó đánh dấu những bước tiến của một
dân tộc trên con đường đi đến phồn vinh.
Tuy nhiên, nếu chúng ta trọng phát đạt hơn phát triển, cả cá nhân và cộng đồng
sẽ rơi vào vòng xoáy đi xuống dù có đạt được những phồn vinh vật chất nhất định.
Phô trương cá nhân, làm ăn chụp giật, thói quen gian dối, đánh bóng tên tuổi,
chạy chức chạy quyền, tham nhũng-hối lộ, nhẫn tâm-vô cảm, sẽ mặc sức hoành hành
và trở thành đặc trưng phổ biến trong mọi tầng lớp xã hội.
Có một ví dụ nhỏ từ câu chuyện của một doanh nhân ở Singapore, là chủ của một
loạt nhà hàng lớn. Ông ta bắt đầu thành công và có tích lũy khá khi Singapore
bước vào giai đoạn phát triển ban đầu của mình (khoảng 40 năm trước). Khi có
tiền, ông đứng trước lựa chọn giữa phô trương sự giàu có và đầu tư phát triển
doanh nghiệp. Ông đã chọn con đường phát triển. Chẳng hạn, ông dành số tiền đáng
giá bằng một chiếc xe hơi sang trọng bậc nhất thời đó vào việc đầu tư trang bị
cho hệ thống nhà hàng của mình các xe chuyển thức ăn rất tiện dụng và đẹp mắt.
Kết quả là, nhà hàng hoạt động hiệu quả hơn, nhân viên phấn chấn hơn, ông chủ
được xã hội quí trọng hơn. Điều đáng lưu ý là, số tiền đầu tư này hoàn toàn đóng
góp cho tăng trưởng GDP trong khi nếu nó dành cho nhập khẩu chiếc xe sang trọng
thì chỉ một phần rất nhỏ của nó đem lại đóng góp cho tăng trưởng kinh tế đất
nước.
Cảm xúc và khai sáng
Người xưa có câu, “gian khó tạo kẻ anh hùng, an nhàn sinh kẻ hèn kém”. Với dân
tộc Việt Nam, chống ngoại xâm và giành độc lập được ý niệm thường trực là một sự
nghiệp thiêng liêng, gian khó; vì vậy, anh hùng của chúng ta trong sự nghiệp này
rất nhiều. Chúng ta thường rất tự hào về chiến công giành độc lập nhưng không
coi trọng hiểu thấu đáo tại sao chúng ta để mất nước. Chúng ta thường nghĩ có
hòa bình độc lập là đã có tất cả nên nhanh chóng rơi vào trạng thái thỏa mãn, an
nhàn. Xây dựng đất nước hùng cường chưa thực sự được coi là sự nghiệp thiêng
liêng, là phương thức hiệu lực nhất để bảo vệ nền độc lập quốc gia và bảo tồn di
sản ngàn năm của dân tộc.
Công cuộc phát triển đòi hỏi hai động lực chủ đạo ví như đôi cánh của một con
chim: xúc cảm (emotion) và khai sáng (enlightenment). Xúc cảm trỗi dậy từ khát
vọng đưa dân tộc đi đến phồn vinh với một vị thế xứng đáng trong cộng đồng thế
giới, từ nỗi lo lắng tới sự tồn vong và hiểm họa an ninh của đất nước, và từ ý
thức trách nhiệm sâu sắc với thế hệ mai sau. Thiếu động lực xúc cảm, con người
thường rơi vào sự tham lam, ích kỷ, và những toan tính cá nhân, trong sự vô cảm
với nỗi đau và niềm khát khao cháy bỏng của đồng bào mình.
Khai sáng là sự khai mở tư duy, là sự dũng cảm tháo bỏ vòng kim cô nô lệ của ý
thức hệ giáo điều và hiểu biết sai lệch về thế giới, là sự khát khao học hỏi tri
thức tinh hoa nhân loại. Thiếu tính khai sáng thường dẫn đến bốn khuyết nhược
lớn sau đây.
Thứ nhất, luôn tự coi mình là tuyệt đối đúng đắn và sáng suốt; thứ hai, qui kết
các khó khăn, thất bại gặp phải vào nguyên nhân khách quan; thứ ba, nghi kỵ
người nói trái ý mình, thấy đâu cũng có lực lượng thù địch; thứ tư, các quyết
sách thường mang tính đối phó-xoay sở, thiếu tính kiến tạo nền tảng và đột phá
chiến lược.
Một điều đáng chú ý là trong chống giặc ngoại xâm, xúc cảm là động lực chủ đạo
làm nên chiến thắng nên nhiều người anh hùng thường coi nhẹ động lực khai sáng;
vì vậy công cuộc phát triển tiếp theo chiến thắng thường gặp khó khăn, thậm chí
suy sụp. Sự nghiệp của vua Quang Trung là một ví dụ đáng suy nghĩ. Động lực xúc
cảm “đánh cho để răng đen, đánh cho để tóc dài rất mạnh mẽ”; nó giúp cho cuộc
đại phá oanh liệt 20 vạn quân Thanh. Thế nhưng, sự hạn chế về động lực khai sáng
thể hiện trong chính câu khẩu hiệu thôi thúc này có lẽ đã là một trong những
nguyên nhân làm sự nghiệp của vị vua anh hùng này sớm lụi tàn.
Chỉ khi có được đôi cánh xúc cảm-khai sáng mạnh mẽ, dân tộc Việt Nam mới có thể
cất cánh, với bứt phá kỳ diệu, để bước vào một giai đoạn phát triển kỳ vĩ mà
ngàn năm còn hãnh diện tự hào.
Chính vì vậy, tôi không tin vào số mệnh, dù của một cá nhân hay của một dân tộc.
Thế nhưng tôi rất tin vào lời nhận định mà nhà kinh tế danh tiếng Arthur Lewis
đưa ra năm 1955, rất lâu trước khi xuất hiện sự phát triển thần kỳ của châu
Á:“Một quốc gia sẽ bước vào một bước ngoặt phát triển nếu nó may mắn có được đội
ngũ lãnh đạo xứng tầm vào đúng thời điểm cần đến. […] Tất cả các dân tộc đều có
cơ hội phát triển nhưng chỉ những dân tộc hội tụ đủ được lòng dũng cảm và ý chí
mới có thể nắm bắt được chúng.”[2]
Nguyên lý phát triển nào cho ta?
Theo tôi, công cuộc phát triển của nước Việt Nam ta cần dựa trên ba nguyên lý
chủ đạo: giá trị, bền vững, và lòng dân. Nguyên lý giá trị nhấn mạnh khía cạnh
kiến tạo giá trị và không chấp nhận sự chụp giật, gian dối, phù phiếm.
Nguyên lý bền vững coi
trọng để lại di sản tốt đẹp cho thế hệ mai sau, từ việc tiết chế trong khai thác
tài nguyên đến bảo vệ môi trường, từ nỗ lực nâng cao hiệu quả đầu tư đến phát
triển mạnh mẽ nguồn lực con người, từ gia cường nền tảng đạo đức xã hội đến xây
dựng thể chế chính trị dựa trên nền tảng quyền lực của nhân dân. Nguyên lý lòng
dân coi ý chí và nguyện vọng của nhân dân như ánh sáng mặt trời chiếu rọi trong
đánh giá và lựa chọn người chịu trách nhiệm điều hành đất nước và xã hội.
[1] Tsunoda, R., De Bary, W., and Keene, D. (1958). Sources of Japanese
tradition. New York: Columbia University Press.
[2] Lewis, W.A. (1955). The theory of economic growth. Homewood, IL: Richard D.
Irwin, Inc.
-
Theo SGTT/TS Vũ Minh Khương (trường Chính sách công Lý Quang Diệu, đại học Quốc gia Singapore)
