![]() |
| Các dây chuyền sản xuất cáp quang của Sacom đang chạy hết công suất. |
Từ “bờ vực” khó khăn
10 năm về trước, khi thị trường chứng khoán Việt Nam mới thành lập, Sacom là một trong hai công ty cổ phần hoạt động hiệu quả được chọn thí điểm niêm yết đầu tiên. Trong 5 năm đầu tiên, trước khi các tên tuổi lớn như Vinamilk, Sacombank xuất hiện, cổ phiếu SAM vẫn là “blue-chip” dẫn dắt thị trường tuyệt đối, mà thời kỳ cực thịnh của Sacom là vào năm 2006. Tuy nhiên, bà Phạm Thị Lợi, Phó TGĐ Sacom cho biết, công ty đã gặp khó khăn vào năm 2007, 2008 do sự chuyển đổi đột ngột của thị trường viễn thông từ sử dụng phổ biến cáp đồng (là sản phẩm chủ yếu của công ty) sang chủ yếu dùng cáp quang. Cộng với nền kinh tế Việt Nam khủng hoảng vào năm 2008 đã làm cho công ty ngày càng khó khăn: thị trường tiền tệ, tài chính liên tục biến động, giá xăng dầu, giá nguyên vật liệu tăng khiến giá thành sản phẩm tăng cao. Ttình hình SXKD khó khăn đã ảnh hưởng rất nhiều đến đời sống và tư tưởng người lao động.
Đặc biệt, sự lao dốc của VN-Index đã khiến Sacom phải trích lập dự phòng đầu tư tài chính 245 tỷ đồng, gây ra khoản lỗ 67 tỷ đồng khi kết thúc năm tài chính. Nằm trong danh sách 16 cổ phiếu bị cảnh báo, cổ phiếu SAM chính thức mất vị trí blue-chip. Năm 2009, dù Sacom đạt lợi nhuận sau thuế 254,8 tỷ đồng, cao nhất kể từ khi niêm yết, nhưng về cơ cấu trong mảng kinh doanh truyền thống Sacom vẫn lỗ 10 tỷ đồng...
Bứt phá đi lên
Trước tình hình sản phẩm truyền thống cáp đồng bị thu hẹp, Sacom đã mạnh dạn tái cơ cấu SXKD, kịp thời chuyển hướng đầu tư sang lĩnh vực sản xuất cáp quang, đa dạng hóa sản phẩm nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường. Vì vậy, xí nghiệp cáp quang đã được thành lập vào năm 2008, đồng thời vẫn thành lập tổ sản xuất dây đồng. Đặc biệt, năm 2009 nhu cầu cáp đồng giảm đi, thị trường cáp quang tăng vọt, dây chuyền sản xuất cáp quang hoạt động hết công suất nhưng vẫn không đủ sản lượng đề ra, công ty đã tiến hành nghiên cứu, tận dụng một số thiết bị sản xuất cáp đồng, chế tạo thêm một số thiết bị khác để có được một số máy SZ sản xuất cáp quang. Công ty đã cải tiến thành công và đưa máy vào hoạt động, đáp ứng được các đơn hàng, đặc biệt là đơn hàng của Viettel. Nhờ đó, sản lượng dây đồng þ8mm đạt được trong các năm gần đây có mức tăng trưởng đều đặn: năm 2008 đạt 700 tấn, năm 2009 lên đến 1400 tấn, quý 1/2010 được 554 tấn, tăng 58,2% so với quý 1/2009.
Ngoài ra, công ty còn tận thu đai sắt từ kiện đồng nhập khẩu để tái sử dụng đưa vào đóng gói cuộn đồng thành phẩm þ8mm... Việc sử dụng than vảy nhập khẩu từ Trung Quốc thay cho than vảy nhập khẩu từ châu Âu để đúc đồng þ8mm với chất lượng ổn định và đạt yêu cầu đã làm lợi cho công ty khoảng 8 triệu đồng mỗi tháng. Công ty còn chế tạo máy ép tấm đồng cathode thay cho việc cắt đồng cathode và đã giảm được 30 công lao động mỗi tháng…
Trong 6 tháng đầu năm 2010, cả 3 nhà máy của Sacom đều chạy hết công suất và liên tục 3 ca. Tất cả các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông trong nước đều sử dụng cáp Sacom và cáp Sacom cũng đã ra thị trường nước ngoài như Lào, Campuchia… Bà Phạm Thị Lợi cho biết, trong tháng 7 này, công ty sẽ được đổi tên thành Công ty Cổ phần và Đầu tư phát triển Sacom và Sacom sẽ duy trì, nâng cao chính sách chất lượng (từ ISO 2001 lên ISO 2008).
Trong giai đoạn 2010 – 2015, Sacom sẽ hoạt động theo chiến lược kinh doanh: 30% cho SXKD lĩnh vực truyền thống, với năng lực sản xuất được nâng từ 300.000km – 750.000km sợi quang và đa dạng hóa thêm sản phẩm thông qua việc đầu tư thêm 1 nhà máy sản xuất dây từ và thanh đồng bán dẫn; 40% cho bất động sản, hiện Sacom đang tập trung vào dự án Sacom – Tuyền Lâm diện tích 270 ha, dự án Nhơn Trạch giai đoạn 1, kinh doanh căn hộ thứ cấp…; 30% đầu tư tài chính, bằng việc góp vốn với các công ty có tiềm năng để sản xuất cáp điện và các vật liệu điện, viễn thông, đầu tư tài chính thông qua các quỹ, đầu tư cổ phiếu…
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 86 ra ngày 19/7/2010.
