.

Báo Bưu Điện Việt Nam đã có cuộc trao đổi với ông Trần Quang Hùng - Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp Điện tử Việt Nam, xung quanh nội dung này.

Mới đây, Sony đã tuyên bố chuyển hướng chiến lược ở Việt Nam, vậy ông có bình luận gì về vấn đề này?

Thực ra việc Sony chuyển hướng sản xuất, ngừng hoạt động nhà máy, chuyển sang kinh doanh và sản xuất phầm mềm,   chúng tôi đã được dự đoán cách đây vài năm. Khi Sony vào Việt Nam xây dựng liên doanh năm 1994, họ chỉ xin phép đầu tư có 10 năm. Nhẽ ra đến năm 2004 đã hết hạn, nhưng tại sao đến tháng 7-2008, Sony mới ngừng hoạt động nhà máy, chuyển hướng sang kinh và sản xuất phần mềm. Điều đó chứng tỏ tầm nhìn và sự tính toán rất chi li của họ. Thứ nhất, họ dự đoán được thời điểm Việt Nam ra nhập AFTA, WTO tương đối chính xác (AFTA-2006; WTO-2007) và xin phép đầu tư đến 2004, gia hạn tới 2008. Đây là một quyết định cực kỳ chính xác. Thứ hai, trong giai đoạn trước AFTA và trước WTO, Nhà nước có chính sách bảo hộ sản xuất trong nước. Nếu nhập khẩu nguyên chiếc thì thuế nhập khẩu tới 40-50%, nhưng nếu lắp CKD thì thuế chỉ có 15% thậm chí là 5%. Cho nên họ đã tận dụng chính sách bảo hộ đó để sản xuất trong nước, đấy cũng là một chiêu của nhà kinh doanh.

Sau 14 năm làm ăn, người ta thấy Sony Việt Nam mới chỉ đầu tư xấp xỉ 16 triệu USD để đổi lấy sự "béo bở" của thị trường nội địa, với sức mua dồi dào và chính sách bảo hộ sản xuất trong nước cực kỳ hấp dẫn. Khi Việt Nam gia nhập WTO, việc dùng chính sách thuế để bảo hộ sản xuất trong nước phải dần được gỡ bỏ và đương nhiên khi lợi thế về thuế không còn, thì nhà đầu tư rút lui là điều dễ hiểu?

Tôi có thể khẳng định đối với sản xuất linh kiện, chíp điện tử thì đây là con số nhỏ nhưng mức đầu tư 16 triệu USD cho một dây chuyền lắp ráp là ấn tượng rồi. Cái giỏi của họ ở đây là họ biết tận dụng chính sách bảo hộ sản xuất trong nước cực kỳ hấp dẫn. Một sự tính toán tuyệt vời của một nhà đầu tư giỏi.

Việc rút lui của các nhà đầu tư là một điều hết sức bình thường, họ đã gián tiếp báo trước cho chúng ta khi chỉ xin phép có 10 năm và gia hạn 2 năm một. Và đây cũng không phải là một "chiêu" mới, Sony cũng đã từng dùng những hình thức đầu tư như vậy ở các nước như Hàn Quốc, Đài Loan và các nước ở châu Á.

Có chuyên gia gọi việc chuyển hướng sản xuất, ngừng hoạt động nhà máy, chuyển sang kinh doanh và sản xuất phần mềm của Sony là sự rút lui để lại một nền công nghiệp điện tử không phát triển được gì, không có sự chuyển giao công nghệ tiên tiến?

Ở đây cần phải nói rõ lắp ráp thì không thể gọi là công nghệ tiên tiến được và nếu chuyển giao công nghệ tiến tiến giai đoạn đó thì chúng ta cũng không có người (để tiếp nhận). Tôi có thể nêu một ví dụ rất rõ ràng rằng, ngay tại thời điểm bây giờ Intel cần tới 4.000 người nhưng chúng ta mới đáp ứng được có vài chục người. Chúng ta hoàn toàn không có người, vậy cách đây 14 năm chúng ta lại càng không có người. Bởi vậy công nghệ lắp ráp chuyển giao vào thời điểm đó hoàn toàn có thể chấp nhận được.

Tuy nhiên, tôi cũng có thể chỉ ra ngay những cái được sau việc chuyển hướng, ngừng hoạt động nhà máy, chuyển sang kinh doanh sản xuất phần mềm của Sony ở Việt Nam: Công nghệ của Sony đưa vào lắp ráp tại nhà máy này là công nghệ không cao, thực ra với kiểu lắp ráp này thì doanh nghiệp trong nước cũng làm được. Nhưng cái được lớn nhất của chúng ta là qua thời gian làm việc với hãng lớn như Sony, chúng ta đã đào tạo được một đội ngũ làm quen với công nghệ sản xuất, cách quản lý sản xuất và chất lượng hiện đại, ngoài ra còn có các kinh nghiệm như bảo hành, sửa chữa hay marketing. Đây chính là những cái được hoàn toàn không thể tính bằng tiền. Trên cơ sở liên doanh với Sony, Viettronics Tân Bình hiện có thể tự mình sản xuất được các sản phẩm mang tên VTB và chất lượng cũng không thua kém so với sản phẩm Sony là bao.     

Trong thời gian tới, cùng với lộ trình hội nhập toàn diện vào WTO, sự bảo hộ sẽ không còn với nhiều ngành sản xuất khác. Từ liên doanh theo tỷ lệ vốn là bên Việt Nam 30% bên nước ngoài 70%, sắp tới sẽ trở thành 100% vốn nước ngoài. Vậy theo ông, sau sự rút lui của Sony, liệu sẽ có doanh nghiệp nào tiếp theo?

Tôi có thể phác hoạ một bức tranh có hai ngã rẽ như thế này: Ngã thứ nhất đi theo hướng Toshiba mua lại cổ phần từ Công ty CP điện tử Thủ Đức và LG cũng mua lại cổ phần phía Việt Nam trong liên doanh để trở thành 100% vốn nước ngoài. Ngã rẽ thứ hai đi theo hướng Sony, các liên doanh với JVC-Panasonic sẽ đi theo hướng Sony, Samsung có thể mua lại cổ phần trong liên doanh. Cơ sở cho dự đoán này là sản lượng của JVC-Panasonic gần đây sụt giảm, còn Samsung đã cho thấy hướng đầu tư mạnh vào Việt Nam (mới nhất là dự án đầu tư nhà máy sản xuất điện thoại di động 670 triệu USD). Nhưng đây không phải là một "quả bom" đánh vào ngành điện tử, bởi vì sau những chuyện như thế này sẽ lại có những công ty mới khác xuất hiện.

Nhìn từ bài học của nước láng giềng Trung Quốc chúng ta thấy, sau khi liên doanh chịu đủ mọi thứ thua thiệt, giờ khi "đủ lông cánh", họ đã siết chặt lại luật đầu tư (không ưu đãi nữa), luật lao động đòi hỏi lương phải cao, sản xuất phải đảm bảo luật môi trường, để đánh bật các đối tác liên doanh như Nhật, Hàn Quốc…

Trong bối cảnh đó, doanh nghiệp điện tử trong nước sẽ phải đối mặt với những thách thức rất lớn, vậy họ phải làm gì để tăng năng lực cạnh tranh, thưa ông?

Hiện nay, doanh nghiệp nước ta có hai cái yếu. Thứ nhất là nguồn vốn ít. Thứ hai là công nghệ chưa cao. Hai điều này chắc chắn sẽ làm cho các doanh nghiệp trong nước gặp rất nhiều khó khăn. Để tăng sức cạnh tranh, ngoài việc tận dụng nguồn nhân lực, các doanh nghiệp nên chuẩn bị theo ba hướng. Hướng thứ nhất là chuyển hướng sản phẩm, từ làm sản phẩm dân dụng sang làm sản phẩm chuyên dụng. Hướng thứ hai là từ sản xuất sản phẩm sang sản xuất linh kiện, phụ tùng. Hướng thứ ba là quan tâm đến thiết kế sản phẩm mới, tự mình thiết kế chứ không phải đi "cóp nhặt" sản phẩm của các nước.

Vậy tương lai ngành công nghiệp điện tử Việt Nam trong những năm tới sẽ ra sao thưa ông?

Theo tôi, tương lai ngành điện tử Việt Nam trong những năm tới rất tươi sáng. Mấy năm vừa qua, mức tăng trưởng của ngành điện tử luôn đạt hai con số, khoảng từ 10-12% và đến năm 2010 vẫn tiếp tục là như vậy. Có thể, đến năm 2010, ngành điện tử nước ta sẽ tăng trưởng mạnh bởi theo cam kết của Việt Nam với WTO thì thuế đánh vào mặt hàng này lúc đó là 0%, mức sống của người tiêu dùng tăng và thiết bị công nghệ mới ra đời liên tục nên dự báo sức mua sẽ tăng. Đặc biệt, các sản phẩm số như điện thoại di động, máy ảnh số, máy quay số và máy tính xách tay sẽ tăng trưởng rất mạnh.

Xin cám ơn ông!

Thực hiện

Đọc toàn bộ bải viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 73 ra ngày 18/8/2008