Cần nghiên cứu xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ, tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người.
Bài viết tập trung đề cập đến cơ sở chính trị, pháp lý và cơ sở thực tiễn trên quan điểm bám sát và tiếp tục thể chế hoá đầy đủ chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ của Nhân dân, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; bảo đảm tính hợp hiến, hợp pháp, tính thống nhất của hệ thống pháp luật, tính tương thích với các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam là thành viên, đồng thời khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện Luật tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14 (Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016) thời gian qua.
Đặt vấn đề
Quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo là một trong các quyền con người và là quyền cơ bản của công dân thuộc nhóm các quyền dân sự và chính trị đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 và Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 mà Việt Nam là thành viên: "Ai cũng có quyền tự do tư tưởng, tự do lương tâm và tự do tôn giáo; quyền này bao gồm cả quyền tự do thay đổi tôn giáo hay tín ngưỡng và quyền tự do biểu thị tôn giáo hay tín ngưỡng qua sự giảng dạy, hành đạo, thờ phụng và nghi lễ, hoặc riêng mình hoặc với người khác, tại nơi công cộng hay tại nhà riêng”; “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Quyền này bao gồm tự do có hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng do mình lựa chọn, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hoặc tôn giáo một mình hoặc trong cộng đồng với những người khác, công khai hoặc kín đáo, dưới các hình thức như thờ cúng, cầu nguyện, thực hành và truyền giảng”.
Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo.
Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo là cơ sở quan trọng, góp phần làm lành mạnh hoá các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo vì lợi ích chính đáng của tín đồ và tổ chức tôn giáo, vì lợi ích chung của toàn xã hội trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh hội nhập và giao lưu quốc tế, thực hiện đại đoàn kết toàn dân, xây dựng cuộc sống "tốt đời, đẹp đạo".
Luật tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành từ năm 2016 (có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/01/2018), khi điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam và tình hình thế giới thời điểm ban hành luật có nhiều khác biệt so với hiện nay. Trong phạm vi bài viết này, tác giả tập trung phân tích, làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, qua đó khẳng định việc xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) trong bối cảnh hiện nay là thật sự cần thiết và phù hợp.
Cơ sở chính trị xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Tín ngưỡng, tôn giáo là lĩnh vực luôn nhận được sự quan tâm của Đảng với quan điểm “Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và thực hiện nghiêm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo”, “Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, đang và sẽ tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta”, “phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp phát triển đất nước”, “Đấu tranh với các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo ảnh hưởng đến an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội”, “Kịp thời phòng, chống âm mưu của các thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền và kích động gây chia rẽ dân tộc, chống Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”, “Vận động, đoàn kết, tập hợp các tổ chức tôn giáo, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ sống “tốt đời, đẹp đạo”, đồng hành cùng dân tộc, tích cực tham gia các cuộc vận động phong trào thi đua yêu nước do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và chính quyền các cấp phát động. Bảo đảm để các tổ chức tôn giáo hoạt động bình đẳng theo quy định của pháp luật và hiến chương điều lệ được Nhà nước công nhận; quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ, hỗ trợ giải quyết các nhu cầu chính đáng của quần chúng tín đồ trong hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng, tâm linh. Tôn trọng, khuyến khích phát huy những giá trị văn hoá, đạo đức tốt đẹp và các nguồn lực của các tôn giáo cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.
Đồng thời, các Nghị quyết của Đảng cũng xác định nhiệm vụ “Tiếp tục thể chế hóa, cụ thể hóa kịp thời, đầy đủ quan điểm, chủ trương của Đảng và quy định của Hiến pháp về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân;… xác định rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Thực hiện tốt nguyên tắc công dân được làm tất cả những gì pháp luật không cấm; quyền công dân không tách rời nghĩa vụ công dân, việc thực hiện quyền con người, quyền công dân không được xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. “Cần tập trung hoàn thiện hệ thống pháp luật trên tất cả các lĩnh vực, tháo gỡ kịp thời khó khăn, vướng mắc, khơi dậy, phát huy tiềm năng và nguồn nhân lực, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước, phát huy dân chủ, bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân,…; “Đơn giản hoá thủ tục hành chính, cắt bỏ các thủ tục không cần thiết, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp, cản trở cạnh tranh lành mạnh; áp dụng hiệu quả dịch vụ công trực tuyến; xây dựng nền kinh tế số, chính phủ số, xã hội số”; “Đẩy mạnh chuyển đổi số, ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị; nâng cao hiệu quả quản trị quốc gia, hiệu lực quản lý nhà nước trên các lĩnh vực, bảo đảm quốc phòng và an ninh”.
Bên cạnh đó, một trong những nhiệm vụ, giải pháp mà Đảng xác định phải tiếp tục xây dựng, hoàn thiện tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị trong thời gian tới là: “Xác định rõ trách nhiệm giữa Trung ương và địa phương và giữa các cấp chính quyền địa phương, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, bảo đảm Trung ương tăng cường quản lý vĩ mô, xây dựng thể chế, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch đồng bộ, thống nhất, giữ vai trò kiến tạo và tăng cường kiểm tra, giám sát”, “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”. “Khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, phân quyền…”, đồng thời đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy xây dựng pháp luật: “... phát huy dân chủ, tôn trọng, bảo đảm, bảo vệ hiệu quả quyền con người, quyền công dân; bảo đảm sự cân đối, hợp lý giữa mức độ hạn chế quyền với lợi ích chính đáng đạt được...”. “Những nội dung đã phân cấp, phân quyền cần phải được đánh giá và chuẩn hoá rõ ràng. Cấp dưới khi được phân cấp, phân quyền phải tự chịu trách nhiệm việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ….”.
Cơ sở pháp lý xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là quyền được hầu hết các quốc gia trên thế giới và Việt Nam ghi nhận và bảo đảm thực hiện trong hệ thống pháp luật của quốc gia, phù hợp với tình hình chính trị - xã hội của từng quốc gia. Hiến pháp năm 2013 quy định mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật.
Ngày 16/6/2025, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và ban hành Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15, tạo cơ sở pháp lý cho việc tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp. Bên cạnh đó, theo quy định tại khoản 2 Điều 11 Nghị quyết số 190/2025/QH15 ngày 19/02/2025 của Quốc hội khoá XV quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước thì “cơ quan, người có thẩm quyền phải ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo thẩm quyền hoặc trình cấp có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật … để xử lý các văn bản chịu sự tác động do sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước, bảo đảm hoàn thành trước ngày 01 tháng 3 năm 2027”.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội số 62/2025/QH15 quy định: “Luật chỉ quy định các vấn đề mang tính ổn định, có giá trị lâu dài, các nội dung chính sách có tính nguyên tắc, định hướng thuộc thẩm quyền của Quốc hội; quy định cụ thể các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân, các vấn đề có ảnh hưởng lớn đến đời sống xã hội. Đối với các nội dung quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực, các vấn đề mới, có tính kiến tạo phát triển, các vấn đề chưa có thực tiễn kiểm nghiệm phân quyền cho Chính phủ, các cơ quan trong bộ máy Nhà nước trong việc tiếp tục cụ thể hóa các quy định của Luật và thực hiện phân cấp bảo đảm phù hợp với năng lực tổ chức thực hiện của từng cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương các cấp và kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn; cơ bản không quy định các nội dung về thủ tục hành chính, về quy trình, quy chuẩn chuyên môn, kỹ thuật và các nội dung có tính biến động cao”.
Những cơ sở chính trị, pháp lý nêu trên đặt ra yêu cầu phải nghiên cứu xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ, tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người, phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam, nâng cao tính công khai, minh bạch, tăng cường ứng dụng hiệu quả công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo. Các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo cũng cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung để bảo đảm thống nhất với các luật, nghị quyết có liên quan và phù hợp với yêu cầu đổi mới tư duy, kỹ thuật lập pháp hiện nay.
Chính vì vậy, ngày 26/9/2025, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 105/2025/UBTVQH15 về Chương trình lập pháp năm 2026, trong đó giao Chính phủ trình Quốc hội xem xét, thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) (tháng 4/2026). Tiếp đó, ngày 24/10/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2352/QĐ-TTg phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026, trong đó giao Bộ Dân tộc và Tôn giáo là cơ quan chủ trì soạn thảo dự án Luật nêu trên (trình Chính phủ vào tháng 01/2026).
Du khách hào hứng check-in tại Nhà thờ Lớn Hà Nội dịp Noel 2025.
Cơ sở thực tiễn xây dựng Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi)
Qua hơn 8 năm thi hành, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã góp phần quan trọng trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của cá nhân, tổ chức, đồng thời tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, trước yêu cầu cấp bách của việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy nhà nước, cải cách mạnh mẽ thủ tục, phương thức điều hành hành chính, đồng thời, đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ trong quản lý nhà nước, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (từ ngày 01/01/2018 đến hết ngày 30/9/2025) đã phát sinh một số hạn chế, khó khăn, cụ thể:
Thứ nhất, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo chưa có quy định về nguyên tắc, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng
Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành (Nghị định số 95/2023/NĐ-CP) đã phần nào xác định hình thức tổ chức hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ trên không gian mạng bằng hình thức trực tuyến hoặc kết hợp hình thức trực tiếp với hình thức trực tuyến. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện vẫn tồn tại khoảng trống và bất cập, cụ thể:
- Về phạm vi thực hiện:
Nghị định số 95/2023/NĐ-CP mới chỉ dừng lại ở quy định thực hiện thủ tục hành chính (thay đổi hình thức thực hiện từ trực tiếp sang trực tuyến hoặc kết hợp hình thức trực tiếp với hình thức trực tuyến) đối với hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ. Đối với hoạt động tín ngưỡng, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 95/2023/NĐ-CP không có quy định như đối với hoạt động tôn giáo.
- Về nguyên tắc thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng:
Nghị định số 95/2023/NĐ-CP đã đưa ra một số nguyên tắc phải tuân thủ khi tổ chức hoạt động tôn giáo, hoạt động quyên góp, tiếp nhận tài trợ bằng hình thức trực tuyến hoặc kết hợp hình thức trực tiếp với hình thức trực tuyến nhưng vẫn còn chung chung, chưa cụ thể, như: tuân thủ Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, quy định của pháp luật về thông tin, truyền thông và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Về trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng:
Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 chưa có quy định ràng buộc trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Trong bối cảnh hiện nay, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng không chỉ là vấn đề mới mà còn là thực tế tất yếu trong kỷ nguyên số, đặt ra những yêu cầu cấp thiết trong việc hoàn thiện pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo, tạo hành lang pháp lý không chỉ bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, bảo đảm để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thuần tuý có thể hoạt động thuận lợi, đúng pháp luật, đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dân, mà còn góp phần ngăn chặn các hành vi lợi dụng, mượn danh nghĩa hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, tuyên truyền mê tín, dị đoan, xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Vì vậy, yêu cầu đặt ra cần thiết phải quy định đầy đủ, toàn diện về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng, không chỉ dừng lại ở việc thực hiện thủ tục hành chính mà còn là việc ghi nhận chính thức trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi) quyền của cá nhân, tổ chức được thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; quy định các nguyên tắc mà cá nhân, tổ chức khi thực hiện hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng phải chấp hành và trách nhiệm của cá nhân, tổ chức hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng; trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền và trách nhiệm của doanh nghiệp viễn thông trong việc ngăn chặn, phát hiện và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo trên không gian mạng.
Thứ hai, để vận hành mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, trong bối cảnh chưa sửa đổi được Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 2 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo (Nghị định số 124/2025/NĐ-CP). Trong tổng số thẩm quyền, nhiệm vụ của Chính phủ, cấp Bộ, các cấp chính quyền địa phương (Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện và xã) quy định tại Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và Nghị định số 95/2023/NĐ-CP, đến nay đã phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền 101 thẩm quyền, nhiệm vụ, trong đó Bộ Dân tộc và Tôn giáo 43; Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh 28; Cơ quan chuyên môn về dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo 15 và Ủy ban nhân dân cấp xã 15. Hiện nay, việc sắp xếp tổ chức bộ máy và vận hành chính quyền địa phương 2 cấp dẫn đến một số quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 liên quan đến thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện không còn phù hợp, vì vậy, cần thiết phải rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 để thực hiện việc điều chuyển thẩm quyền, chức năng của Ủy ban nhân dân cấp huyện cho cơ quan cấp tỉnh hoặc cấp xã thực hiện cho phù hợp.
Bên cạnh đó, thực tiễn công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo thời gian qua cũng gặp khó khăn, vướng mắc do một số vấn đề chưa có quy định của pháp luật điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa rõ ràng, như: trên thực tế hiện nay nhiều địa điểm, cơ sở của cá nhân hoặc do doanh nghiệp đầu tư xây dựng có tổ chức hoạt động tín ngưỡng và người thực hiện các hoạt động này đã thực hiện việc đăng ký hoạt động tín ngưỡng với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (mặc dù Luật chưa có quy định nhưng họ mong muốn pháp luật có quy định để được thực hiện); về quản lý sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài trong các khu công nghiệp, khu kinh tế... nơi chính quyền địa phương khó tiếp cận, quản lý; về đăng ký người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc để tạo thuận lợi cho tất cả các tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc, tổ chức được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; về điều kiện, thẩm quyền thu hồi đăng ký đối với các điểm sinh hoạt tôn giáo tập trung, thu hồi giấy chứng nhận đối với tổ chức được cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo khi vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo hoặc theo đề nghị của người đại diện tổ chức; một số chức sắc, chức việc cố tình vi phạm pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo nhưng chưa có quy định xử lý,… với tính chất là các biện pháp quản lý nhà nước đối với hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo.
Mặt khác, thẩm quyền của các cơ quan trong việc tham mưu quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo; hoạt động lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo; quản lý xuất bản ấn phẩm tài liệu liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo; quản lý nhà nước về hoạt động y tế, giáo dục, từ thiện liên quan đến tôn giáo; thẩm quyền quản lý các hoạt động tín ngưỡng,... và trách nhiệm phối hợp với các cơ quan chuyên môn cần tiếp tục được phân định cụ thể rành mạch hơn, tránh sự chồng chéo hoặc tạo khoảng trống trong công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo. Trong khi đó, tổ chức bộ máy thực hiện quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo sau sắp xếp, sáp nhập tổ chức bộ máy đã có sự thay đổi rất lớn. Ở Trung ương, Bộ Dân tộc và Tôn giáo được thành lập trên cơ sở Ủy ban Dân tộc, đồng thời tiếp nhận thêm chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về tôn giáo từ Bộ Nội vụ. Ở địa phương, cấp tỉnh là Sở Dân tộc và Tôn giáo, một số nơi vẫn sắp xếp ở Sở Nội vụ (6 tỉnh, thành phố); ở cấp xã do Phòng Văn hóa xã hội thực hiện. Do vậy, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cần được sửa đổi, bổ sung để thực hiện phân quyền, phân cấp, tiếp tục bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và hoàn thiện các biện pháp quản lý nhà nước trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo trong tình hình mới.
Thứ ba, trong bối cảnh thực hiện mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, để kịp thời đáp ứng yêu cầu thực tiễn, bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong hoạt động của tổ chức bộ máy, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 124/2025/NĐ-CP, theo đó có 56 thủ tục hành chính ở 3 cấp (cấp trung ương có 23 thủ tục; cấp tỉnh có 24 thủ tục và cấp xã có 09 thủ tục). Vì vậy, khi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, quy định về trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính cần được điều chỉnh cho phù hợp, không quy định về trách nhiệm tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính của Ủy ban nhân dân cấp huyện.
Bên cạnh đó, theo quy định của pháp luật tín ngưỡng, tôn giáo hiện hành, trong thành phần hồ sơ các thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay còn bao gồm nhiều giấy tờ có liên quan, trong đó có phiếu lý lịch tư pháp của nhân sự dự kiến làm người đại diện của nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung, người dự kiến lãnh đạo các tổ chức...
Trong khi đó, Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 09/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố quán triệt, tuân thủ đúng quyền yêu cầu cấp Phiếu lý lịch tư pháp theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Luật Lý lịch tư pháp; có các giải pháp hiệu quả và tiến tới chấm dứt yêu cầu người dân nộp Phiếu lý lịch tư pháp không đúng quy định. Cũng theo quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, quy trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay vẫn còn thực hiện theo phương thức truyền thống (thực hiện tiếp nhận, quản lý và lưu trữ hồ sơ giấy). Việc lưu trữ hồ sơ giấy cũng gây khó khăn trong việc tổng hợp, báo cáo số liệu về tín ngưỡng, tôn giáo, làm giảm tính minh bạch và hiệu quả quản lý nhà nước. Vì vậy, việc cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, giảm bớt số lượng giấy tờ, rút ngắn thời gian xử lý và đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong giải quyết thủ tục hành chính là cần thiết.
Từ các cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn nêu trên cho thấy, cần thiết phải nghiên cứu để sửa đổi toàn diện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập trong quá trình tổ chức thực hiện Luật Tín ngưỡng, tôn giáo thời gian qua, đồng thời kế thừa các quy định còn phù hợp của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho cá nhân, tổ chức thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tiếp tục phát huy các giá trị dân chủ, văn minh của loài người và chủ nghĩa xã hội; tiếp tục thực hiện phân quyền, phân cấp trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số và đơn giản hoá thủ tục hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo. Từ đó, góp phần tiếp tục tạo thuận lợi cho cá nhân, tổ chức, bảo đảm hệ thống các cơ quan, người có thẩm quyền hoạt động liên tục, thông suốt, không bị gián đoạn, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, phù hợp với chủ trương tổ chức bộ máy quản lý nhà nước thời gian qua và trong giai đoạn sắp tới.
Vũ Hoài Bắc - Trưởng Ban Tôn giáo Chính phủ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Nghị quyết số 24-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.
2. Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo.
3. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 09/11/2022 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới.
4. Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.
5. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
6. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
7. Chỉ thị số 49-CT/TW ngày 20/10/2015 của Ban Bí thư về tăng cường và đổi mới công tác dân vận của Đảng ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
8. Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IX về công tác dân tộc trong tình hình mới.
9. Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả.
10. Kết luận số 226-KL/TW ngày 11/12/2025 của Ban Bí thư về việc chấn chỉnh lề lối làm việc, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị.
11. Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948.
12. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966.
13. Hiến pháp năm 2013.
14. Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
15. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo số 02/2016/QH14.
16. Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Tổ chức Quốc hội số 62/2025/QH15.
17. Nghị quyết số 105/2025/QH15 ngày 26/9/2025 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về Chương trình lập pháp năm 2026.
18. Nghị định số 95/2023/NĐ-CP ngày 29/12/2023 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo.
19. Nghị định số 124/2025/NĐ-CP ngày 11/6/2025 của Chính phủ quy định về phân quyền, phân cấp; phân định thẩm quyền của chính quyền địa phương 02 cấp trong lĩnh vực công tác dân tộc, tín ngưỡng, tôn giáo.
20. Quyết định số 2352/QĐ-TTg ngày 24/10/2025 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trì soạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết trong Chương trình lập pháp năm 2026.
21. Chỉ thị số 23/CT-TTg ngày 09/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính cấp Phiếu lý lịch tư pháp tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp,
22. Tờ trình số 3254/TTr-BDTTG ngày 31/12/2025 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo trình Chính phủ về hồ sơ chính sách của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (sửa đổi).
23. Báo cáo tổng kết việc thi hành Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016.