![]() |
| Theo lộ trình mục tiêu đặt ra, đến năm 2015 các doanh nghiệp và Tập đoàn CNTT của Việt Nam sẽ phát triển đạt trình độ, qui mô khu vực Đông Nam Á. |
Thưa ông, nếu đề cập đến những cơ chế đặc thù cũng như chính sách đột phá để tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển của ngành CNTT&TT, thì đâu là những hướng đi Việt Nam cần thực hiện?
Nói đến chính sách đột phá tức là nói đến vấn đề phải bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý liên quan đến nhiều lĩnh vực như đầu tư, tài chính, đất đai… sao cho phù hợp với đặc thù của lĩnh vực CNTT&TT, tháo gỡ những khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi tối ưu cho việc triển khai các dự án.
Về chính sách về đầu tư, đó là việc tăng cường nguồn vốn đầu tư để phát triển công nghiệp CNTT, nghiên cứu phát triển, xúc tiến thương mại, xúc tiến đầu tư trong lĩnh vực CNTT&TT, ban hành chính sách ưu đãi cao nhất về đầu tư đối với các dự án phát triển hạ tầng viễn thông băng rộng tới vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo và dự án xây dựng các khu CNTT tập trung; Khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào quá trình phát triển ứng dụng CNTT trong đời sống xã hội, cơ quan nhà nước, cung cấp thông tin và dịch vụ trực tuyến phục vụ người dân và doanh nghiệp trên cơ sở hợp tác giữa Chính phủ và doanh nghiệp; Bổ sung, hoàn thiện cơ chế quản lý đầu tư phù hợp với đặc thù của lĩnh vực CNTT&TT, tháo gỡ khó khăn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc triển khai nhanh các dự án CNTT&TT do Nhà nước đầu tư.
Đối với chính sách về tài chính, đó là ưu đãi thuế, nguồn vốn như xây dựng cơ chế, chính sách ưu đãi về thuế đối với lĩnh vực CNTT&TT trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt theo hướng áp dụng mức ưu tiên, ưu đãi cao nhất của Luật Công nghệ cao về thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu đối với các hoạt động CNTT&TT (bao gồm cả hoạt động đầu tư, xây dựng và sản xuất, kinh doanh sản phẩm, dịch vụ CNTT); Thực hiện đa dạng hóa các nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động CNTT &TT.
Vốn ngân sách nhà nước đầu tư trực tiếp sẽ ưu tiên cho các dự án, chương trình như phát triển hạ tầng, ứng dụng CNTT trực tiếp phục vụ hoạt động quản lý, điều hành của các cơ quan Đảng, Chính phủ và các tổ chức chính trị- xã hội; Các chương trình, dự án quy hoạch, nghiên cứu khoa học, xây dựng hạ tầng các khu công nghiệp tập trung về CNTT&TT; Các dự án đào tạo nguồn nhân lực CNTT theo qui hoạch, kế hoạch; Hỗ trợ cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công của Nhà nước trong lĩnh vực CNTT&TT nhằm mục tiêu hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo. Có loại hạng mục chi riêng về CNTT trong mục lục ngân sách nhà nước theo quy định của Luật Công nghệ thông tin; Ưu tiên sử dụng nguồn vốn kích cầu của Chính phủ và các nguồn tín dụng ưu đãi khác của nhà nước cho các dự án đầu tư phát triển hạ tầng, sản phẩm CNTT&TT…
Ngoài ra, cơ chế đặc thù còn thể hiện ở việc có cơ chế phù hợp để huy động vốn đầu tư của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong việc xã hội hóa đầu tư phát triển hạ tầng viễn thông, ứng dụng CNTT, công nghiệp CNTT và đào tạo nguồn nhân lực CNTT, phát triển sản phẩm mới…; Nghiên cứu, áp dụng mô hình hợp tác công - tư phù hợp cho các dự án phát triển cơ sở hạ tầng CNTT&TT và cung cấp dịch vụ.
Mở rộng phạm vi hoạt động của Quỹ dịch vụ viễn thông công ích và sử dụng kinh phí thu được từ đấu giá tần số để hỗ trợ phát triển hạ tầng, phổ cập sử dụng dịch vụ viễn thông, Internet băng rộng và hỗ trợ thiết bị nghe nhìn, thiết bị thu truyền hình số cho người dân ở vùng sâu, vùng xa theo qui định của pháp luật.
Để trở thành quốc gia mạnh về CNTT&TT thì không thể không nhắc đến vai trò quan trọng của đối tượng doanh nghiệp, Tập đoàn lớn trong nước. Vậy cụ thể hơn, đâu là cơ chế để hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các đơn vị?
Theo lộ trình mục tiêu đặt ra, đến năm 2015 các doanh nghiệp và tập đoàn CNTT của Việt Nam sẽ phát triển đạt trình độ, quy mô khu vực Đông Nam Á, có các hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, trong đó một số doanh nghiệp có tổng doanh thu đạt trên 10 tỷ USD. Và đến năm 2020, sẽ có nhiều doanh nghiệp và tập đoàn CNTT của Việt Nam hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, đạt trình độ, quy mô thế giới, trong đó một số doanh nghiệp có tổng doanh thu đạt trên 15 tỷ USD.
Chính vì vậy, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp và tập đoàn CNTT&TT trọng tâm của Việt Nam trên các lĩnh vực, nhất là hai lĩnh vực dịch vụ và sản xuất công nghiệp được chú trọng đặc biệt. Nhà nước xây dựng cơ chế để ưu tiên cho các doanh nghiệp CNTT&TT chủ đạo của Việt Nam làm tổng thầu các dự án CNTT&TT lớn dùng nguồn vốn ngân sách nhà nước hoặc vốn có nguồn gốc ngân sách nhà nước. Ngoài ra, đó là sự thúc đẩy hình thành các doanh nghiệp CNTT&TT lớn, kinh doanh hiệu quả, năng lực cạnh tranh cao, trở thành các tập đoàn kinh tế mạnh, từ đó từng bước mở rộng ra thị trường khu vực và thế giới, hình thành thương hiệu “Công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam”.
Riêng với vấn đề đào tạo, thu hút nguồn nhân lực CNTT, Việt Nam cần sớm chú trọng đến những nội dung gì?
Để thực hiện các mục tiêu chiến lược đã đề ra, thì trước hết yếu tố tăng cường khả năng thông tin, dự báo và định hướng phát triển nguồn nhân lực CNTT theo nhu cầu thị trường trong nước và quốc tế là những hướng Việt Nam cần sớm chú trọng. Ngoài ra, ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, tạo cơ chế đặc thù để tăng quyền tự chủ cho một số cơ sở đào tạo, nghiên cứu trọng điểm về CNTT đạt trình độ quốc tế. Đẩy mạnh đào tạo nguồn nhân lực CNTT chất lượng cao, các chuyên gia tư vấn, phân tích thiết kế, xây dựng và quản lý hệ thống CNTT.
Tôi cho rằng, việc đẩy mạnh hợp tác với các tổ chức quốc tế trong lĩnh vực CNTT&TT, phối hợp trao đổi, đào tạo chuyên gia trong lĩnh vực kỹ thuật và quản lý CNTT&TT cần được đặc biệt chú trọng, trong đó có cả vấn đề tạo điều kiện thuận lợi đối với các nhà khoa học nước ngoài làm việc cho Việt Nam trong lĩnh vực CNTT&TT.
Thưa ông, trong việc thực hiện Đề án thì vai trò quan trọng của Bộ TT&TT sẽ được đặt ra như thế nào?
Theo tinh thần chỉ đạo chung của Chính phủ, thì Bộ TT&TT sẽ có nhiệm vụ xây dựng kế hoạch triển khai chi tiết, theo dõi, đôn đốc triển khai thực hiện Đề án trên cả nước. Hàng năm sẽ thực hiện tổng hợp, báo cáo Thủ tướng Chính phủ tiến độ thực hiện Đề án và đề xuất các giải pháp kịp thời, cần thiết để đảm bảo việc thực hiện thành công các mục tiêu. Bên cạnh đó, căn cứ vào thực tế tình hình phát triển kinh tế - xã hội, tình hình phát triển của CNTT&TT để trình Thủ tướng Chính phủ những nội dung cần cập nhật, điều chỉnh Đề án cho phù hợp…
Bộ TT&TT cũng có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với các Bộ ngành như Bộ KH&ĐT, Bộ KH&CN, Bộ Tài chính, Bộ GD&ĐT, Bộ Công Thương và các địa phương, đơn vị liên quan thực hiện các nhiệm vụ của Đề án, xây dựng các cơ chế, chính sách cần thiết trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Xin cảm ơn ông!
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 96, 97, 98 ra ngày 11/8/2010.
