e-Banking 2008:
Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng (TTĐTLNH) này đang được hệ thống Ngân hàng Nhà nước triển khai và đưa vào ứng dụng.
Theo thống kê của các ngân hàng quốc doanh và cổ phần trong nước, từ năm 2002 đến năm 2008, có 18.450.737 lệnh thanh toán và tổng số tiền giao dịch là 17.075.000 tỷ đồng dựa trên nền tảng ứng dụng CNTT trong lĩnh vực ngân hàng. Bình quân mỗi ngày có khoảng 35.000 đến 45.000 lệnh thanh toán với tốc độ 10 giây cho mỗi lần giao dịch. Cả nước hiện đang có hơn 4500 máy ATM, gần 15.000 máy POS và hơn 10.300.000 thẻ ATM đã phát hành. Đây là một yếu tố cần thiết để các ngân hàng liên kết và xây dựng hệ thống thanh toán điện tử theo chuẩn chung.
Cần sớm hoàn thiện hệ thống TTĐTLNH
Theo ông Tạ Quang Tiến, Cục trưởng cục công nghệ tin học, ngân hàng nhà nước Việt Nam cho rằng điều cần thiết hiện nay chính là các ngân hàng cần nhanh chóng nối kết vào hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng. Khi tham gia vào hệ thống này, việc trao đổi giao dịch cho khách sẽ dễ dàng, nhanh chóng. Hơn nữa, các ngân hàng có thể tận dụng được nguồn vốn một cách hiệu quả vì nguồn tài chính sẽ được luân chuyển một cách nhanh chóng hơn mà không phải mất nhiều thời gian như trước đây. Theo đó, tổng số vốn đầu tư vào hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng trong thời gian sắp tới sẽ là 118 triệu USD sẽ tập trung vào các yếu tố như xây dựng các trung tâm dự phòng thảm họa, tăng cường hệ thống an ninh bảo mật, đẩy mạnh xây dựng hệ thống internet-Banking, máy ATM, POS và hệ thống Mobile Banking… Ngoài ra, với con số 400 chi nhánh của 82 ngân hàng thương mại đã tham gia vào hệ thống đã thể hiện sự hữu ích và cần thiết đối với các ngân hàng.
Hệ thống thanh toán điện tử tại Việt Nam đã được đưa vào sử dụng từ năm 2002, qua 5 năm hoạt động hệ thống này đã đáp ứng được các yêu cầu của ngân hàng nhà nước trong quá trình kiểm soát nguồn vốn dự trữ thông qua số dư tài khoản tập trung duy nhất tại sở giao dịch ngân hàng nhà nước. Ngoài ra, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả thanh toán đã gia tăng đáng kể.
Không tránh khỏi những hạn chế
Dù Ngân hàng nhà nước đã nỗ lực trong việc xây dựng hệ thống TTĐTLNH nhưng vẫn còn tồn đọng những hạn chế. Đơn cử là công tác thống kê chưa được tin học hóa hoàn toàn. Theo đánh giá của các tổ chức tín dụng, chỉ có 70% nhu cầu thông tin của NHNN được tự động cập nhật từ các giao dịch ban đầu tại tổ chức tín dụng, 30 % số còn lại được thu thập các giao dịch thủ công và báo cáo lập báo cáo lại cho NHNN đã cho thấy hệ thống này phát huy hết hiệu quả. Những ứng dụng CNTT trong công tác dự báo phân tích chỉ mang lại hiệu quả khiêm tốn.
Ngoài những nguyên nhân khách quan liên quan đến hạ tầng truyền thông, không đồng bộ các thiết bị tin học còn có nhiều yếu tố liên quan đến thiếu nhận thức về hiệu quả của công nghệ dẫn đến tình trạng chưa có chính sách đầu tư thích đáng trong lĩnh vực này. Nhận thức của những người sử dụng thông tin vẫn còn hạn chế làm cho thực trạng ứng dụng CNTT chưa có môi trường phát triển. Ngoài ra, trình độ và kiến thức tin học cũng tác động không nhỏ đến những chính sách ứng dụng CNTT trong tài chính.

“Nhờ vào các chính sách và ứng dụng công nghệ thông tin trong hệ thống ngân hàng đã đẩy mạnh tất cả ứng dụng trong tất cả các khâu. Trong đó, khả năng thống kê số liệu, phân tích, đánh giá tình hình, xây dựng các mô hình dự báo kinh tế, tiền tệ, ra quyết định và thực thi quyết định đều phải dựa trên các ứng dụng CNTT dẫn đến thúc đẩy nền kinh tế phát triển.”
“Hệ thống TTĐTLNH cần phải phát triển nhanh, đồng bộ để đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Tuy nhiên, sự e ngại của một số ngân hàng về mặt đầu tư chi phí, đội ngũ thực hiện, tính đồng bộ đã gây ra những hạn chế đáng kể trong tiến độ xây dựng hệ thống TTĐTLNH”.
“Triển khai hệ thống TTĐTLNH sẽ kích thức nhiều dịch vụ và tiện ích cho khách hàng. Hạ tầng mạng và khả năng kết nối băng rộng sẽ tạo ra những phương thức thanh toán trực tuyến như Internet Banking và Mobile Banking và sẽ dần thay thế cho hệ thống thẻ ATM hiện nay”.