![]() |
| Bà Lê Thi vui mừng gặp lại chị du kích người Tày - chính là bà Đàm Thị Loan (phu nhân của cố Đại tướng Hoàng Văn Thái ), người cùng kéo cờ trong Lễ tuyên ngôn độc lập 2/9/1945. |
Niềm vinh dự bất ngờ
Bà Lê Thi tên thật là Dương Thị Thoa, hiện trú ở 62 phố Ngô Quyền, Hà Nội. Bà sinh năm 1926 trong một gia đình nho học, có bố là cố giáo sư Dương Quảng Hàm, một trí thức nổi tiếng dạy Việt văn và sử Việt Nam ở trường Bưởi.
Năm 16 tuổi, khi đang học tại trường Đồng Khánh, bà Lê Thi và một số người bạn thường truyền tay nhau đọc báo Cứu quốc và sớm có ý thức ủng hộ Việt Minh. Đầu năm 1945, bà Lê Thi chính thức trở thành chiến sĩ Việt Minh, hoạt động bí mật trong Hội Phụ nữ cứu quốc. Trong thời gian này, bà và những người bạn hoạt động hăng say để phổ biến báo chí yêu nước cho nhiều người đọc, tổ chức quyên góp lương thực gửi lên chiến khu...
Ngày Bác Hồ đọc bản Tuyên ngôn độc lập (2/9/1945), bà Lê Thi khi đó mới 19 tuổi cùng chị em trong Hội Phụ nữ cứu quốc nhập vào đoàn biểu tình của phụ nữ Liên khu 1, vừa đi vừa hô vang: “Việt Nam độc lập muôn năm!”, “Ủng hộ Việt Minh!”.
Nhớ lại giây phút lịch sử trong ngày Lễ Độc lập 2/9/1945, bà Lê Thi xúc động kể lại: “Việc tôi được chọn kéo cờ trong lễ Tuyên ngôn Độc lập là hoàn toàn ngẫu nhiên, không hề được báo trước. Đang đứng trong hàng thì có người nói: “Các cô cử một người lên kéo cờ”. Tôi đang đứng ở ngay đầu hàng, các đồng chí trong hàng đều nói “Thi lên đi”. Thực sự, lúc đó tôi sợ lắm, tự nhiên nói lên kéo cờ là lên, chẳng được báo trước gì cả! Đang lưỡng lự thì trên gọi, dưới thúc, tôi “liều” bước lên. Khi lên đến nơi đã thấy một chị du kích người Tày đại diện cho An toàn khu đứng ở đó, chưa kịp hỏi tên nhau, hai cô gái đã được dẫn đến cột cờ chuẩn bị nghi lễ.
Lúc ấy tôi nghĩ lại thời còn là học sinh trường Đồng Khánh, chiều nào tôi cũng phải cùng một bạn kéo cờ. Thế nhưng, chúng tôi “nghịch” lắm, lại có ý chống đối nên kéo cờ lúc nào cũng trong tình trạng cái cao, cái thấp, nhiều khi lại làm cờ bị tắc tị. Còn bây giờ, đứng trước lá cờ Tổ quốc thiêng liêng, làm một nhiệm vụ trọng đại mà không được tập trước... sao mà run thế? Tôi lo lắm, mình kéo cờ nhỡ tắc thì sao? Đang miên man trong dòng suy nghĩ thì có tiếng nói cắt ngang: “Chuẩn bị kéo cờ”. Tôi vội vàng nói với chị du kích người Tày: Chị thấp chị nâng cao cờ lên, em cao hơn sẽ kéo. Hai chị em thỏa thuận như thế và “nín thở” kéo cờ. Đến khi lá cờ đã lên cao, tung bay trong bản nhạc Tiến quân ca tôi mới dám thở phào”.
Nhớ mãi thời khắc lịch sử
Bà Lê Thi cho biết, được chọn lên để kéo cờ trong thời khắc trọng đại của dân tộc là điều may mắn của bà. Đây cũng là lần đầu tiên bà và nhiều người được nhìn thấy Bác Hồ, vị cha già kính yêu của dân tộc. Lúc đó, Người mặc bộ quần áo ka ki, đi dép cao su rất đỗi giản dị. “Nhìn thấy Người, tôi hết sức ngạc nhiên. Lúc ấy, tôi cứ băn khoăn sao Chủ tịch nước mà lại không mặc com lê, thắt ca vát? Khi Bác đọc lời thề: “Toàn thể nhân dân Việt Nam thà chết không chịu làm nô lệ”, chúng tôi và biển người đồng thanh hô vang: “Xin thề!”. Đến lúc Bác dừng lời hỏi: “Tôi nói đồng bào nghe rõ không?” thì cũng như tất cả mọi người, tôi trào dâng nước mắt cảm động. Sao Bác Hồ bình dân, dễ gần đến thế! Giữa Bác và mọi người hòa chung một khối, không có gì cách biệt, xa lạ.
Kéo cờ xong, người thì về hàng nữ du kích chiến khu, người về hàng ngũ phụ nữ Hà Nội. Mãi đến tận năm 1989, khi hồi ký của bà Lê Thi được đăng trên báo kể về một “cô du kích người Tày”, còn hồi ký của “cô du kích người Tày” lại nói về một cô thiếu nữ Hà Nội thì họ mới tìm lại nhau. Sau 44 năm xa cách, họ được gặp nhau ở buổi họp của Trung đoàn Thủ đô tại Viện Bảo tàng quân đội. Lúc này họ mới biết tên họ của nhau, một người là Lê Thi (Dương Thị Thoa) còn người kia là Đàm Thị Loan, phu nhân của cố Đại tướng Hoàng Văn Thái.
Từ sau cách mạng tháng 8/1945, bà Thi được tổ chức điều về hoạt động bí mật trong nội thành Hà Nội và được cử làm Hội trưởng Hội Phụ nữ cứu quốc khu Hoàn Kiếm. Hòa bình lập lại, bà được cử đi học Trường Lý luận cao cấp Nguyễn Ái Quốc (nay là Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh) khóa đầu tiên, sau đó ở lại trường và bắt đầu công việc nghiên cứu. Năm 1961, bà làm Viện trưởng Viện Triết học, đến năm 1987, bà cùng đồng nghiệp xây dựng Trung tâm nghiên cứu gia đình và phụ nữ. Bà được Nhà nước phong hàm Giáo sư năm 1991. Bây giờ, khi tuổi đã cao, không còn đi được nhiều nữa, bà vẫn tìm niềm vui trong công việc, nghiên cứu, viết sách, viết báo...
Đọc toàn bộ bài viết trên báo Bưu điện Việt Nam số 96, 97, 98 ra ngày 11/8/2010.
