Quy định nêu rõ kiểm tra, giám sát là những chức năng lãnh đạo của Đảng. Tổ chức đảng phải tiến hành công tác kiểm tra, giám sát và chấp hành việc kiểm tra, giám sát của cấp có thẩm quyền. Tổ chức đảng và đảng viên phải thường xuyên tự kiểm tra, giám sát.

Tổ chức đảng cấp trên kiểm tra, giám sát tổ chức đảng cấp dưới và đảng viên. Tổ chức đảng, đảng viên thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo sự phân công của tổ chức đảng có thẩm quyền.

Công tác kiểm tra, giám sát phải kịp thời phát hiện nhân tố mới tích cực để phát huy, phải bảo vệ cái đúng, bảo vệ người tốt, cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Công tác kiểm tra, giám sát cũng phải chủ động phát hiện sớm để phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục khuyết điểm, vi phạm của tổ chức đảng và đảng viên ngay từ khi còn mới manh nha, không để vi phạm nhỏ tích tụ thành sai phạm lớn, kéo dài và lan rộng. Khi các vụ việc vi phạm được phát hiện, phải cương quyết xử lý kỷ luật nghiêm minh, kịp thời để răn đe và giáo dục.

2026_04_08_10_33_131 (1).jpg
Một phiên họp của Ủy ban Kiểm tra Trung ương. Ảnh: Ủy ban Kiểm tra Trung ương

Cùng với đó, công tác kiểm tra, giám sát phải tuân thủ đúng nguyên tắc, quy trình, thủ tục, thẩm quyền, phương pháp công tác theo quy định của Đảng; chủ động, kịp thời, công khai, dân chủ, khách quan, công tâm, thận trọng, chặt chẽ, chính xác, nghiêm minh.

Mọi tổ chức đảng và đảng viên đều bình đẳng trước kỷ luật của Đảng và đều phải chịu sự kiểm tra, giám sát, kỷ luật của Đảng, không có ngoại lệ.

Quy định số 21 bổ sung nguyên tắc tổ chức, nhiệm vụ, quyền hạn của ủy ban kiểm tra các cấp. Cụ thể, khi cần bổ sung ủy viên ủy ban kiểm tra, phó chủ nhiệm còn thiếu so với đề án nhân sự được phê duyệt thì ban thường vụ cấp ủy thực hiện quy trình giới thiệu nhân sự và báo cáo ban thường vụ cấp ủy cấp trên để xem xét, quyết định (không phải xin chủ trương).

Khi thay đổi chủ nhiệm ủy ban kiểm tra thì phải trao đổi với ủy ban kiểm tra cấp trên để báo cáo ban thường vụ cấp ủy xem xét, quyết định, trước khi giới thiệu để bầu bổ sung chủ nhiệm. 

Quy định mới này để đồng bộ và phù hợp với Quy định số 377 của Bộ Chính trị và tạo điều kiện thuận lợi cho cấp ủy kịp thời bổ sung nhân sự thành viên ủy ban kiểm tra khi khuyết, thiếu so với đề án nhân sự được phê duyệt.

Ủy ban Kiểm tra Trung ương có 23-25 ủy viên (trong đó có 2-3 ủy viên kiêm nhiệm), trong đó không quá một phần ba là Ủy viên Trung ương Đảng. Thường trực Ủy ban Kiểm tra Trung ương gồm chủ nhiệm và các phó chủ nhiệm; số lượng phó chủ nhiệm do Bộ Chính trị quyết định.

Ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy trực thuộc Trung ương có 11-13 ủy viên, riêng Ủy ban Kiểm tra Thành ủy Hà Nội, Thành ủy TPHCM có 13-15 ủy viên chuyên trách (do cấp ủy quyết định).

Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương, Đảng ủy Chính phủ, Đảng ủy Quốc hội và Đảng ủy MTTQ, các đoàn thể Trung ương có 9-11 ủy viên; riêng Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Chính phủ có 11-13 ủy viên.

Các ủy viên chuyên trách gồm: Từ 2 đến 3 phó chủ nhiệm và một số ủy viên; riêng Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Chính phủ có từ 3 đến 4 phó chủ nhiệm; phó chủ nhiệm thường trực là cấp ủy viên.

Ủy ban Kiểm tra Quân ủy Trung ương có 11-13 ủy viên (do Quân ủy Trung ương quyết định). Ủy ban Kiểm tra Đảng ủy Công an Trung ương có 11-13 ủy viên (do Đảng ủy Công an Trung ương quyết định).

Được ghi âm, ghi hình trong kiểm tra, giám sát

Khi kiểm tra, giám sát được sử dụng một số biện pháp: Ghi âm, ghi hình; niêm phong hồ sơ, tài liệu; yêu cầu cơ quan chức năng phong tỏa tài khoản, kê biên tài sản, tạm hoãn xuất cảnh và các biện pháp khác theo quy định của pháp luật. 

Biện pháp mới ghi âm, ghi hình (ví dụ như quy định về người thực hiện, biện pháp, thiết bị ghi âm, ghi hình…) sẽ được quy định chi tiết trong hướng dẫn của Ban Bí thư.

Trong quá trình kiểm tra, giám sát nếu phát hiện tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị hoặc cá nhân có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự thì báo cáo, xin ý kiến cấp có thẩm quyền và chuyển hồ sơ, tài liệu liên quan cho cơ quan điều tra để thụ lý, xử lý theo quy định của pháp luật. Quy định mới này để phù hợp với thực tiễn nếu phát hiện đối tượng kiểm tra, giám sát có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự và thực hiện Quy chế phối hợp giữa ủy ban kiểm tra với các cơ quan bảo vệ pháp luật.

Quy định số 21 cũng tăng thẩm quyền cho Ủy ban Kiểm tra Trung ương trong việc thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm.

Cụ thể, Ủy ban Kiểm tra Trung ương quyết định các hình thức kỷ luật đối với đảng viên, cấp ủy viên cấp trên cơ sở trở xuống; khiển trách, cảnh cáo, cách chức cấp ủy viên tỉnh ủy, thành ủy và đảng ủy trực thuộc Trung ương (kể cả bí thư, phó bí thư, ủy viên ban thường vụ đương chức và nghỉ hưu), đảng viên là cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý nhưng không phải là ủy viên Trung ương Đảng.

Ngoài ra, Quy định mới quy định rõ hơn về thẩm quyền thi hành kỷ luật đảng viên vi phạm của ban thường vụ, đảng ủy cấp trên trực tiếp cơ sở và ủy ban kiểm tra tỉnh ủy, thành ủy, đảng ủy trực thuộc Trung ương.

Quy định số 21 cũng bổ sung nguyên tắc, nội dung giải quyết tố cáo phù hợp với tình hình thực tiễn.

Trường hợp người tố cáo được mời (2 lần) nhưng không đến làm việc mà không có lý do chính đáng thì tổ chức đảng có thẩm quyền giải quyết tố cáo lập biên bản, không xem xét, giải quyết tố cáo, lưu hồ sơ kết thúc.

Quy định cũng nêu rõ, không giải quyết đơn tố cáo đang được cấp có thẩm quyền giải quyết. Mục đích để tránh trường hợp cấp có thẩm quyền đang giải quyết tố cáo theo quy định, người tố cáo vẫn gửi đơn tố cáo đến các tổ chức, cơ quan, đơn vị khác.

Kết luận giải quyết tố cáo phải nêu rõ đối với từng nội dung tố cáo: Tố cáo sai; tố cáo không có cơ sở, không đủ căn cứ kết luận; tố cáo đúng có khuyết điểm; tố cáo đúng có vi phạm.