Lời tòa soạn: Khi sự nghiệp rộng mở ở nước ngoài, nhiều trí thức, chuyên gia, doanh nhân... đã chọn trở về, mang theo tri thức và khát vọng dựng xây đất nước phát triển phồn vinh. Họ chọn phụng sự Tổ quốc theo cách riêng của mình. VietNamNet đăng tải loạt bài "Những người chọn trở về..." để tôn vinh những cống hiến thầm lặng cho nước nhà của những người con ưu tú.

GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng từng đảm nhiệm nhiều chức vụ như Phó Chủ tịch Quốc hội khóa 8, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội khóa 9, Viện trưởng Viện Tim TPHCM, Phó Chủ tịch Hội nạn nhân chất độc da cam/đioxin Việt Nam... Đặc biệt, bà được biết tới nhiều nhất ở vai trò Giám đốc Bệnh viện phụ sản Từ Dũ và là người đã mang kỹ thuật IVF về Việt Nam, đem lại niềm vui cho biết bao nhiêu gia đình hiếm muộn.

Nhìn TPHCM hôm nay với những tòa nhà cao tầng, những tuyến đường rộng mở và nhịp sống sôi động, GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng không khỏi xúc động trước chặng đường thành phố và đất nước đã đi qua. Trong cuộc trò chuyện với PV VietNamNet, bà nhắc nhiều đến những người đã hy sinh trong chiến tranh. Với bà, khi vẫn còn nhiều gia đình chưa biết người thân của mình đang nằm ở đâu thì đó là điều còn chưa trọn vẹn...

W-GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng .png
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động, Thầy thuốc nhân dân. Ảnh: Phước Sáng

Có nhiều ngày, 4 mẹ con cùng ở trong phòng trực bệnh viện

Ngày 30/4/1975, thành phố phương Nam này bước sang một trang mới. Và tại Bệnh viện Từ Dũ, những ngày đầu sau giải phóng là khoảng thời gian đầy biến động.

“Hầu hết bác sĩ không đến bệnh viện vì lo sợ. Một số người thì tìm cách rời khỏi Việt Nam” - bà Nguyễn Thị Ngọc Phượng nhớ lại.

Bệnh viện thiếu người, nhưng bệnh nhân không thể chờ đợi. Những sản phụ vẫn chuyển dạ, những ca cấp cứu vẫn cần phẫu thuật. Đặc biệt, nhiều sản phụ đến Từ Dũ khi đó là người nghèo, không có điều kiện khám thai nên thường có nhiều biến chứng.

Khi ấy, bà Phượng có 3 người con nhỏ. Đứa lớn nhất mới 5 tuổi, đứa thứ hai 4 tuổi, đứa út chỉ hơn 2 tháng tuổi, vẫn còn bú mẹ.

“Tôi tự hỏi nếu ai cũng rời đi, vậy bệnh nhân cần mổ, cần cấp cứu thì ai lo?” - bà kể.

Giữa những ngày bộn bề đó, bà dắt các con vào Bệnh viện Từ Dũ, xin 3 suất cơm và ở lại trực 24/24h. Cả 4 mẹ con sống luôn trong phòng trực hơn một tháng.

Đó là lựa chọn đầu tiên trong một chuỗi những lựa chọn mà sau này bà phải đưa ra giữa cuộc sống riêng và công việc, giữa những điều kiện tốt hơn cho bản thân và trách nhiệm với người bệnh, quê hương.

Bà Phượng kể có những giai đoạn, sợi chỉ phẫu thuật phải tiết kiệm đến từng centimet. Bác sĩ dùng kềm để cột chỉ, khi cắt chỉ bỏ đi chỉ còn khoảng 1cm. Máu cũng thiếu. Có lần đang mổ, thấy bệnh nhân mất máu nhiều, biết mình có nhóm máu phù hợp, bà tháo găng chạy xuống phòng xét nghiệm lấy máu, rồi mang túi máu còn nóng trở lại phòng mổ để truyền.

"Bệnh nhân đang chảy máu không cầm được, truyền vào 5 phút sau là cầm được" - bà nhớ lại.

W-GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng.png
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng: “Tôi tự hỏi nếu ai cũng rời đi, vậy bệnh nhân cần mổ, cần cấp cứu thì ai lo?”. Ảnh: Phước Sáng

Nhưng điều bà nhớ hơn cả không phải sự thiếu thốn mà là những con người đã cùng nhau vượt qua nó. Bác sĩ, điều dưỡng, nữ hộ sinh, hộ lý, công nhân, người buôn bán nhỏ, người nội trợ..., mỗi người một công việc, âm thầm góp sức để thành phố tồn tại và đi lên. 

Từ những ngày ấy, bà hình thành một cách nhìn về tầm vóc thành phố "không chỉ qua những tòa nhà cao tầng" mà qua những con người bình dị âm thầm cống hiến. 

2 lần từ chối rời quê hương

Giữa những năm tháng thiếu thốn, nữ bác sĩ trẻ cũng từng đứng trước cơ hội rời Việt Nam.

Năm 1974, chồng bà sang Pháp tu nghiệp, làm thủ tục bảo lãnh để đưa cả 4 mẹ con sang cùng. Hộ chiếu bà đã cầm trên tay, các con cũng đã được tiêm ngừa để đủ điều kiện xuất cảnh, chỉ chờ ngày lên đường.

Thế nhưng, một buổi giảng tại trường đại học đã khiến bà thay đổi quyết định. Hôm ấy, khi giảng về nhau bong non (triệu chứng bệnh lý sản khoa), bà vẫn giữ thói quen kể vài câu chuyện vui để sinh viên bớt căng thẳng. Nhắc đến việc sản phụ cần tránh đi lại ở những nơi gập ghềnh, bà nói: “Cầu tre lắt lẻo, gập ghềnh đừng đi”. Từ phía dưới, sinh viên hỏi vọng lên: “Vậy thì cầu ván đóng đinh thì đi được phải không cô?”.

Nhìn những gương mặt trẻ trung, trong veo trước mắt, bà chợt nghĩ những sinh viên ấy đâu biết người thầy đang đứng trên bục giảng đã chuẩn bị rời đi. Ngay sau buổi học, bà đạp xe đến nơi cấp hộ chiếu để trả lại giấy tờ. Người ta hỏi lý do, bà chỉ đáp một câu: "Đất nước mình thì mình ở".

W-GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng.png.jpg
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng đại diện cho công dân TPHCM phát biểu tại lễ kỷ niệm 50 năm thành phố Sài Gòn - Gia Định vinh dự mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh (2/7/1976 - 2/7/2026). Ảnh: Phước Sáng

Năm 1979, cơ hội sang Pháp một lần nữa đến với bà khi chồng trở về Việt Nam để bảo lãnh cả gia đình. Nhưng bà vẫn quyết định ở lại. Không muốn chồng phải sống một mình nơi đất khách, hai người đồng thuận ly hôn. Bà từng dự định khi về già sẽ bảo lãnh ông trở lại quê hương. Thế nhưng, mong muốn ấy chưa kịp thành hiện thực thì ông qua đời tại Pháp năm 2003.

Nhắc lại chuyện cũ, bà vẫn có sự day dứt của một người phụ nữ từng đứng trước lựa chọn giữa gia đình và lý tưởng. Tuy nhiên, bà chưa bao giờ xem quyết định ở lại là một sự hy sinh đơn thuần.

“Pháp hay Mỹ không thiếu bác sĩ, nhưng những bệnh nhân ở đây, những người tôi từng mang ơn, lại rất cần sự giúp đỡ” - bà chia sẻ.

Bà nói ngay từ khi mới trở thành sinh viên y khoa, bà đã nhận ra một điều: những bệnh nhân đầu tiên chính là những người giúp các bác sĩ trẻ học nghề, rèn tay nghề. Đó là một sự hy sinh.

“Cho nên đến khi tiến bộ, tay nghề vững vàng lại rời đi thì tôi không đành lòng” - bà nói. 

Do vậy, chuyện ở lại với bà không chỉ là một lựa chọn về nơi sống. Đó là sự tiếp nối một món nợ ân tình với người bệnh và quê hương.

GS.BS Nguyễn Thị NGọc Phượng 05.png
GS.BS Nguyễn Thị Ngọc Phượng bên những đứa trẻ mang trong mình dị tật bẩm sinh do hậu quả của chất độc da cam. Ảnh: Tư liệu

“Phải làm cho người ta có con”

Giữa những năm 1980, trong quá trình khám chữa cho bệnh nhân, bà gặp ngày càng nhiều phụ nữ không thể sinh con. Có trường hợp bà nhớ mãi là một người phụ nữ từ Hải Dương vào tận TPHCM nhờ chữa trị sau khi đã cắt cả hai vòi trứng, không còn khả năng mang thai theo cách tự nhiên. Bà mày mò tìm tài liệu nhưng trong nước gần như không có thông tin gì về hướng điều trị này.

Năm 1984, trong một chuyến công tác ở Thái Lan, cứ hết giờ làm là bà lên thẳng thư viện để tìm hiểu về hiếm muộn. Đó là lần đầu tiên bà biết đến phương pháp thụ tinh trong ống nghiệm (IVF), đã được thực hiện thành công ở Anh từ năm 1978.

Bà Phượng quyết tâm bằng mọi giá phải làm được điều tương tự cho người Việt Nam. Với các đoàn khách quốc tế đến thăm Bệnh viện Từ Dũ, sau khi giải quyết xong công việc chính, bà luôn tranh thủ ngỏ lời xin hỗ trợ ít dụng cụ để làm thụ tinh ống nghiệm.

Năm 1994, sau khi bà tham gia ca mổ tách cặp song sinh Việt - Đức, Bộ Y tế cử bà sang Pháp làm nghiên cứu sinh. Tại đó, với kinh nghiệm của mình, bà được xét phong giáo sư và ở lại giảng dạy.

GS.BS Nguyễn Thị NGọc Phượng 004.png
Ca phẫu thuật tách rời cặp song sinh Việt - Đức diễn ra vào ngày 4/10/1988 tại Bệnh viện Từ Dũ. Ảnh: Tư liệu 

"Lương giáo sư ở Pháp khá cao. Sau khi đóng thuế cho cả hai nước, tôi tiết kiệm đến mức tối đa, để dành tiền mua từng món thiết bị. Tranh thủ mọi thời gian rảnh, tôi vào các trung tâm làm IVF ở Pháp, ghi chép cẩn thận từng loại máy, từng quy trình, rồi nhờ các công ty của kiều bào mua và gửi dần về Sở Y tế TPHCM" - bà Phượng cười hiền khi kể lại, như thể ký ức ấy mới chỉ vừa xảy ra hôm qua.

Đến năm 1995, khi trở về nước, phòng thí nghiệm đã được trang bị gần như đầy đủ. Số tiền còn dư, bà dùng để gửi một số bác sĩ của Từ Dũ sang Pháp học thêm về kỹ thuật này.

Nhưng rào cản lớn nhất không nằm ở vật chất. Trong bệnh viện, bà phải thuyết phục Ban Giám đốc, Đảng ủy, sau đó lên Sở Y tế, UBND thành phố. Lý lẽ bà đưa ra dựa trên kinh nghiệm của các nước: nếu người vô sinh được chữa cho sinh con thành công, cộng đồng xung quanh sẽ tin tưởng hơn vào ngành y, từ đó dễ chấp nhận các chủ trương hạn chế sinh đẻ thay vì cứ sinh nhiều vì sợ rủi ro mất con.

Bộ trưởng Bộ Y tế khi ấy - GS Đỗ Nguyên Phương - nói với bà rằng “Sản xuất ra máy móc, nếu hỏng thì bỏ. Còn sản xuất ra con người thì tôi cần thời gian, phải xin ý kiến Bộ Chính trị”.

anh tu lieu 3 be tton dau tien.jpg
Những em bé chào đời từ thụ tinh ống nghiệm đầu tiên ở Việt Nam. Ảnh: Tư liệu

Sau nhiều tháng chờ đợi, ngày 19/8/1997, Bệnh viện Từ Dũ được cho phép thực hiện kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm.

Ngay trong ngày này, ca đầu tiên được tiến hành.

Có 36 cặp vợ chồng được chọn cho chương trình thử nghiệm. Nếu không thành công, công trình có nguy cơ dừng lại vì chi phí quá lớn. Hai tuần chờ kết quả là khoảng thời gian bà gần như không ăn, không ngủ. Mỗi cuộc điện thoại từ gia đình bệnh nhân đều có thể mang đến một tin vui hoặc một thất vọng.

"Hồi làm luận án tốt nghiệp bác sĩ, tôi có viết một câu: 'Với những ai đau khổ vì bệnh tật, tôi nguyện sẽ là người an ủi'. Mà muốn an ủi thì phải giải quyết được nỗi đau khổ, khó khăn cho người ta. Vậy bây giờ người ta không sinh được con thì mình phải ráng làm cho người ta có con" - bà Phượng chia sẻ.

Cuối cùng, 11 phụ nữ mang thai và sinh con. Ba em bé đầu tiên chào đời cùng ngày 30/4/1998. Từ thành công ấy, kỹ thuật IVF dần được nhân rộng ra cả nước.

Từ giảng đường, phòng mổ đến nghị trường

Song song với công tác chuyên môn, bà Phượng từng đảm nhiệm nhiều vị trí trong hệ thống chính trị: Phó Chủ nhiệm Ủy ban Y tế và Xã hội Quốc hội khóa 7, Phó Chủ tịch Quốc hội khóa 8, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Đối ngoại Quốc hội khóa 9.

GS.BS Ngọc Phượng.png
Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh thăm, chúc Tết Bính Ngọ 2026 nguyên Phó Chủ tịch Quốc hội khoá 9 Nguyễn Thị Ngọc Phượng. Ảnh: Tư liệu

Trong những năm làm công tác Quốc hội, bà đi gần như khắp đất nước, từ Đất Mũi (Cà Mau) đến những vùng sâu, vùng xa ở miền Bắc. Có nơi, đường trơn trượt đến mức bà phải bò bằng hai đầu gối mới vào được tới trạm y tế. 

Chính những chuyến đi ấy giúp bà nhìn thấy phía sau các con số về kinh tế, y tế hay phát triển là đời sống rất cụ thể của từng người dân. Với bà, sự thấu hiểu đó dần lắng lại thành tình cảm gắn bó với đất và người.

Ở tuổi 82, điều bà Phượng nghĩ đến không phải là nghỉ ngơi.

"Còn sức, tôi còn làm!" - bà khẳng định.

Gần 60 năm trong nghề, bà muốn truyền lại cho các bác sĩ trẻ những điều không có trong sách vở. Không còn trực tiếp mổ, bà vẫn đứng bên bàn mổ, thấy động tác nào chưa chuẩn thì nhắc nhở. Bà tin rằng, nếu kinh nghiệm không được truyền lại, nó sẽ mất đi cùng người sở hữu.

Với bà, cống hiến không phải điều gì lớn lao. Đó có thể là làm tốt phần việc của mình, đối xử tử tế với người khác, giúp một bệnh nhân được cứu sống, truyền lại kinh nghiệm cho người trẻ hay góp một phần nhỏ để thành phố ngày càng tốt hơn.

Theo bà, thế hệ hôm nay được sống trong hòa bình, có đời sống vật chất tốt hơn, có cơ hội học tập, làm việc trong những điều kiện mà thế hệ trước không có. Tất cả đều được đánh đổi bằng sự hy sinh của những người đi trước. Vì vậy, đền đáp không thể chỉ bằng lời nói.

"Phải cố gắng cống hiến hết sức mình" - bà nhắn nhủ.