Ngày 19/4/2026 là dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt - tròn 80 năm Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi thư tới Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku. Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, bức thư ấy không chỉ là lời thăm hỏi, động viên đồng bào các dân tộc thiểu số những ngày đầu đất nước giành được độc lập, mà còn là sự kết tinh sinh động tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, tinh thần ấy tiếp tục được kế thừa, bổ sung và phát triển tại Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, như một yêu cầu chiến lược để quy tụ sức mạnh toàn dân tộc, tạo động lực cho phát triển nhanh và bền vững.

đại đoàn kết1.jpg
Đoàn kết tiếp tục là giá trị nền tảng, là điều kiện tiên quyết để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Ảnh: VGP

Thư ngắn gọn, tư tưởng lớn

Ngày 19/4/1946, trong thư gửi Đại hội các dân tộc thiểu số miền Nam tại Pleiku, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Đồng bào Kinh hay Thổ, Mường hay Mán, Gia Rai hay Ê Đê, Xê Đăng hay Ba Na và các dân tộc thiểu số khác đều là con cháu Việt Nam, đều là anh em ruột thịt. Chúng ta sống chết có nhau, sướng khổ cùng nhau, no đói giúp nhau”.

Chỉ bằng vài câu ngắn gọn, mộc mạc, Bác đã khẳng định một chân lý có giá trị sâu sắc cả về chính trị, lịch sử và nhân văn: mọi dân tộc trong cộng đồng Việt Nam đều bình đẳng, gắn bó máu thịt, cùng chung cội nguồn, chung vận mệnh và chung trách nhiệm với non sông đất nước. Ở đó không có sự phân biệt dân tộc đa số hay thiểu số theo nghĩa cao thấp, càng không có chỗ cho tư tưởng chia rẽ hay đối lập. Tất cả đều là thành viên của đại gia đình dân tộc Việt Nam.

Điều đáng nói là bức thư ra đời vào thời điểm cách mạng Việt Nam còn đứng trước vô vàn thử thách. Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa vừa thành lập chưa lâu, chính quyền cách mạng còn non trẻ, thù trong giặc ngoài bủa vây, âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc diễn ra dưới nhiều hình thức. Trong bối cảnh ấy, lời căn dặn của Bác càng cho thấy tầm nhìn chính trị sâu rộng: muốn bảo vệ nền độc lập non trẻ, muốn củng cố chính quyền cách mạng, trước hết phải xây dựng khối đoàn kết bền chặt giữa các dân tộc anh em.

Bức thư ngày 19/4/1946 vì vậy không chỉ mang ý nghĩa của một văn kiện lịch sử, mà còn là một tuyên ngôn về tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Đại đoàn kết dân tộc: rộng rãi, lâu dài, bền vững nhất

Trong toàn bộ di sản tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đại đoàn kết dân tộc là một nội dung xuyên suốt. Người xác định đây là vấn đề chiến lược, quyết định thành công của cách mạng.

Tư tưởng ấy được Bác khái quát bằng câu nói đã trở thành chân lý:

Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết

Thành công, thành công, đại thành công”.

Không phải ngẫu nhiên mà Hồ Chí Minh nhấn mạnh ba lần chữ “đoàn kết”. Theo Người, trong mọi giai đoạn, từ đấu tranh giành chính quyền, kháng chiến chống ngoại xâm đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, sức mạnh quyết định vẫn là sức mạnh của nhân dân, của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Với Người, đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết rộng rãi nhất, lâu dài nhất, bền vững nhất. Đó là sự đoàn kết giữa các giai cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo, giữa người trong Đảng và ngoài Đảng, giữa đồng bào trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài. Miễn là cùng hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân, đều cần được tập hợp trong khối đại đoàn kết.

Chính tư tưởng rộng mở, bao dung, nhân văn và thực tiễn đó đã giúp cách mạng Việt Nam quy tụ được sức mạnh của toàn dân tộc trong những thời điểm cam go nhất.

Trong tư tưởng đại đoàn kết của Hồ Chí Minh, vấn đề đoàn kết giữa các dân tộc anh em chiếm vị trí đặc biệt quan trọng. Bác nhiều lần đề cập: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”. Đây là sự khẳng định chắc chắn về tính thống nhất không thể chia cắt của quốc gia - dân tộc Việt Nam. Đồng thời, đó cũng là lời phủ nhận mọi âm mưu lợi dụng vấn đề dân tộc để chia rẽ khối đoàn kết, gây mất ổn định chính trị và phá hoại sự nghiệp cách mạng.

Tư tưởng của Hồ Chí Minh về đoàn kết dân tộc không chỉ dừng ở lời khẳng định tình cảm “anh em ruột thịt”, mà còn thể hiện ở yêu cầu phải bảo đảm sự bình đẳng thực chất giữa các dân tộc.

Bình đẳng ở đây không phải là bình đẳng hình thức, mà là bình đẳng về quyền lợi, cơ hội phát triển, về vị thế chính trị, về điều kiện tiếp cận giáo dục, y tế, văn hóa, đời sống vật chất và tinh thần. Người luôn nhấn mạnh phải giúp đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển kinh tế, nâng cao dân trí, đào tạo cán bộ, giữ gìn bản sắc văn hóa và cải thiện đời sống, cùng nhau tiến bộ, cùng nhau phát triển, để mọi thành viên trong cộng đồng dân tộc đều được thụ hưởng thành quả của độc lập, tự do.

Ngày nay, khi đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới thì đại đoàn kết dân tộc càng có ý nghĩa chiến lược. Những thách thức như phân hóa giàu nghèo, chênh lệch vùng miền, tác động của mạng xã hội, thông tin xấu độc, âm mưu chia rẽ khối đoàn kết dân tộc, lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền… càng cho thấy cần phải bồi đắp mạnh mẽ hơn nữa niềm tin xã hội và sự đồng thuận quốc gia.

đại đoàn kết.jpg
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với các già làng, trưởng bản, nghệ nhân, người có uy tín tiêu biểu toàn quốc trong buổi gặp gỡ ngày 18/4 tại Hà Nội. Ảnh: TTXVN

Tinh thần đại đoàn kết trong giai đoạn mới: giá trị nền tảng, điều kiện tiên quyết

Tinh thần đại đoàn kết tiếp tục được khẳng định rõ trong Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Đại hội xác định phương châm: “Đoàn kết - Dân chủ - Kỷ cương - Đột phá - Phát triển”. Việc đặt “Đoàn kết” ở vị trí đầu tiên không chỉ mang ý nghĩa phương châm hành động, mà còn cho thấy đây tiếp tục là giá trị nền tảng, là điều kiện tiên quyết để thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước.

Các văn kiện Đại hội XIV nhấn mạnh yêu cầu “phát huy mạnh mẽ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc”, kết hợp chặt chẽ sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Đồng thời, Đại hội cũng đề cao việc bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các giai cấp, tầng lớp, các dân tộc, tôn giáo; không ngừng củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Để chăm lo thế trận lòng dân, vun đắp khối đại đoàn kết dân tộc, Đại hội XIV xác định tiếp tục bảo đảm các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tương trợ cùng phát triển; thúc đẩy tính tích cực, ý chí tự lực, tự cường của đồng bào các dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội, vươn lên thoát nghèo và giảm nghèo đa chiều bền vững.

Điểm nổi bật trong tinh thần Đại hội XIV là đại đoàn kết dân tộc không chỉ được nhìn nhận dưới góc độ tư tưởng hay vận động quần chúng, mà còn gắn trực tiếp với yêu cầu phát triển bền vững, bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. Đây là sự kế thừa rất rõ ràng tư tưởng Hồ Chí Minh. Đó là muốn đoàn kết bền vững thì phải chăm lo lợi ích thiết thực của nhân dân; muốn củng cố niềm tin xã hội thì phải giải quyết tốt các vấn đề dân sinh, dân chủ, công bằng và cơ hội phát triển.

Có thể thấy, từ tư tưởng của Bác đến định hướng lớn của Đảng hôm nay là một mạch nối xuyên suốt. Phát huy tư tưởng đại đoàn kết dân tộc hiện tại trước hết là tiếp tục củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ; chăm lo tốt hơn đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Đó còn là việc tôn trọng sự đa dạng văn hóa trong thống nhất, khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, tự lực, tự cường, trách nhiệm công dân, khát vọng cống hiến của mỗi người Việt Nam.