Mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng nâng cao năng lực sản xuất và năng lực công nghệ của nền kinh tế đất nước.
Ông Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh công nghiệp hỗ trợ càng phát triển, năng lực nội sinh của nền kinh tế càng được củng cố. Ảnh: BTC
“Đại hội 14 của Đảng đã xác định yêu cầu cấp thiết phải đổi mới mô hình tăng trưởng, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của nền kinh tế; giải quyết tốt mối quan hệ giữa tự chủ sản xuất trong nước với tham gia mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.
Mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2030 đặt ra yêu cầu phải nhanh chóng nâng cao năng lực sản xuất và năng lực công nghệ của nền kinh tế đất nước. Trong yêu cầu đó, công nghiệp hỗ trợ không phải là một bộ phận thứ yếu của nền công nghiệp, mà là một trong những nền tảng hình thành năng lực công nghiệp quốc gia”.
Nội dung trên được ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh tại Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam,” do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Bộ Công Thương và Tỉnh ủy Phú Thọ tổ chức ngày 30/9.
Chuyển từ “có sản phẩm” sang “có năng lực"
Theo ông Nguyễn Thanh Nghị, một nền công nghiệp mạnh không chỉ được đo bằng quy mô sản xuất và xuất khẩu sản phẩm cuối cùng, mà quan trọng hơn là bằng khả năng làm chủ vật liệu, linh kiện, thiết bị, công nghệ, thiết kế, tiêu chuẩn, dịch vụ kỹ thuật và các khâu có giá trị gia tăng cao. Công nghiệp hỗ trợ càng phát triển, năng lực nội sinh của nền kinh tế càng được củng cố, giá trị tạo ra và giữ lại trong nước càng lớn, cùng khả năng chống chịu trước những biến động bên ngoài càng cao.
Trong bối cảnh mới, yêu cầu có tính chiến lược đối với Việt Nam, không chỉ đi theo các chuỗi giá trị đã hình thành, mà phải chủ động chuẩn bị năng lực để tham gia và từng bước định vị ở những chuỗi giá trị mới.
Bên cạnh các chính sách mới, Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương nhấn mạnh vấn đề đặt ra hiện nay là cùng với việc tiếp tục rà soát, bổ sung chính sách kịp thời thì phải chuyển mạnh sang tổ chức thực hiện có trọng tâm, có kết quả và có khả năng đo lường. Trên cơ sở đó, ông đưa ra bảy định hướng lớn.
Thứ nhất, xác định công nghiệp hỗ trợ là bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia. Mỗi ngành công nghiệp chủ lực cần xác định rõ những vật liệu, linh kiện, phân hệ, thiết bị, công nghệ và dịch vụ kỹ thuật mà Việt Nam cần làm chủ; Những mắt xích có thể trở thành lợi thế cạnh tranh; những năng lực cần hình thành để bảo đảm chủ động, tự chủ và nâng cao vị thế trong chuỗi cung ứng.
Thứ hai, chuyển trọng tâm từ “có sản phẩm” sang “có năng lực". Trong đó, mục tiêu là hình thành năng lực thiết kế, công nghệ, vật liệu, quản trị chất lượng, thử nghiệm, chứng nhận và cải tiến liên tục. Để làm được điều này, cần từng bước hình thành đội ngũ doanh nghiệp Việt Nam có khả năng trở thành nhà cung ứng cấp 1, nhà tích hợp hệ thống đồng thời có năng lực cùng khách hàng nghiên cứu, thiết kế và phát triển sản phẩm.
Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề “Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam” do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp với Bộ Công thương và Tỉnh ủy Phú Thọ tổ chức ngày 30/9
Thứ ba, lấy doanh nghiệp làm trung tâm của hệ sinh thái phát triển công nghiệp hỗ trợ. Nhà nước tập trung kiến tạo thể chế, thị trường và hạ tầng; doanh nghiệp dẫn dắt xác định nhu cầu, tiêu chuẩn và lộ trình phát triển nhà cung ứng; doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ đầu tư nâng cao năng lực; viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm kỹ thuật tham gia giải quyết bài toán công nghệ, thử nghiệm, chứng nhận và năng lực.
“Cần chuyển mạnh từ hỗ trợ theo danh mục sang hỗ trợ theo chuỗi, theo đơn hàng, theo kết quả đầu ra”, ông Nguyễn Thanh Nghị nhấn mạnh.
Lựa chọn có trọng tâm
Thứ tư, ông Nguyễn Thanh Nghị cho rằng cần phát huy mạnh hơn vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, doanh nghiệp Việt Nam và thu hút FDI trong xây dựng năng lực công nghiệp quốc gia. Trước đó, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị đã đặt yêu cầu phát triển kinh tế tư nhân, nâng cao năng lực nội sinh, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển về công nghệ, năng suất và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Trong công nghiệp hỗ trợ, đây là lực lượng trực tiếp đầu tư, đổi mới công nghệ và hình thành năng lực cung ứng. Do đó, việc thu hút FDI cần chuyển mạnh theo hướng nâng cao chất lượng, hiệu quả và sức lan tỏa; coi công nghệ, nghiên cứu phát triển, nhân lực chất lượng cao và liên kết với doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ năm, lựa chọn có trọng tâm các ngành và công nghệ ưu tiên, nhất là những lĩnh vực có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa lớn. Cụ thể, tiếp tục nâng cấp chuỗi công nghiệp hỗ trợ trong các ngành công nghiệp hiện hữu đồng thời chủ động chuẩn bị năng lực cho các lĩnh vực mới, như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, robot và tự động hóa, vật liệu mới, pin và lưu trữ năng lượng, thiết bị bay không người lái, hàng không - vũ trụ, các lĩnh vực công nghiệp mới và hệ thống sản xuất thông minh. Tuy nhiên, cần lựa chọn đúng những công đoạn, sản phẩm và phân hệ mà Việt Nam có khả năng tích lũy năng lực, có thị trường và có khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu.
“Đây cũng là tinh thần phù hợp với định hướng của Nghị quyết Đại hội 14 của Đảng về ưu tiên phát triển một số ngành công nghiệp, công nghệ chiến lược”, ông Nguyễn Thanh Nghị nói.
Thứ sáu, xây dựng hạ tầng công nghiệp và hạ tầng kỹ thuật dùng chung đáp ứng chuẩn quốc tế. Trong đó, cần hình thành mạng lưới trung tâm kỹ thuật dùng chung có năng lực thực chất; Đổi mới đào tạo nhân lực theo nhu cầu của doanh nghiệp và chuỗi cung ứng, nhất là trong các lĩnh vực cơ khí chính xác, vật liệu, điện tử, tự động hóa, bán dẫn, quản trị chất lượng và thiết kế sản phẩm.
Phó Thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương Nguyễn Thanh Nghị và các đại biểu tham quan gian trưng bày sản phẩm tại hội thảo. Ảnh: BTC
Thứ bảy, đổi mới phương thức hỗ trợ của Nhà nước theo hướng tập trung, có điều kiện và gắn với kết quả. Cụ thể, nguồn lực Nhà nước cần thực sự đóng vai trò “vốn mồi,” tập trung vào những khâu mà doanh nghiệp khó tự vượt qua trong giai đoạn đầu, như nghiên cứu-phát triển, thiết kế, phát triển mẫu, thử nghiệm, chứng nhận, đổi mới công nghệ, đào tạo nhân lực và chuyển đổi số. Hỗ trợ phải gắn với kết quả có thể kiểm chứng: Nâng năng suất, đạt tiêu chuẩn quốc tế, giảm tỷ lệ lỗi, phát triển khách hàng mới, tham gia chuỗi cung ứng, tăng giá trị gia tăng trong nước hoặc hình thành năng lực công nghệ mới.
Về phía địa phương, ông Phạm Đại Dương, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ cho hay trong bối cảnh, yêu cầu trong giai đoạn mới, phát triển công nghiệp hỗ trợ là tiền đề để phát triển công nghệ chiến lược, công nghiệp trọng điểm, nuôi dưỡng các năng lực phát triển mới, thực hiện mục tiêu tự lực, tự cường, tự chủ chiến lược và hội nhập sâu rộng theo tinh thần Nghị quyết số 19.
Sau hợp nhất đơn vị hành chính cấp tỉnh và vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, mỗi tỉnh, thành phố đều có những tiềm năng, lợi thế, không gian phát triển và động lực tăng trưởng mới. Vấn đề đặt ra là các địa phương, đặc biệt là các tỉnh, thành phố có lợi thế về phát triển công nghiệp hỗ trợ (trong đó có Phú Thọ) cần tập trung vào lĩnh vực nào, khâu đột phá nào để phát huy lợi thế đặc thù của địa phương, đồng thời tạo tác động cộng hưởng, lan tỏa cao nhất với sự phát triển của các địa phương, các vùng trong cả nước? Đồng thời, cần có cơ chế gì phát nhằm phát huy vai trò điều phối, đồng hành, định hướng của Trung ương, cơ chế hợp tác, liên kết giữa các địa phương để bảo đảm tính đồng bộ, liên thông trong quy hoạch, đầu tư, phát triển hạ tầng, dữ liệu và phân bổ nguồn lực.
Bởi vậy, ông Phạm Đại Dương nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước trong thúc đẩy liên kết, hình thành hệ sinh thái doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ quốc gia và việc tổ chức không gian phát triển, phát huy lợi thế của địa phương.