
Bộ Chính trị nhấn mạnh quan điểm phát triển vùng là phương thức tổ chức tăng trưởng quốc gia, tổ chức lại không gian phát triển, phân bổ nguồn lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong bối cảnh mới.
Trong đó, Bộ Chính trị lưu ý đổi mới mạnh mẽ mô hình phát triển, mô hình tăng trưởng; chuyển từ chủ yếu dựa vào nguồn lực sẵn có sang kiến tạo, dẫn dắt, khơi thông và kích hoạt mọi nguồn lực; phát huy nội lực là cơ bản, chiến lược, lâu dài, quyết định, kết hợp hiệu quả với ngoại lực, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, có sức chống chịu cao.

Việc tổ chức lại không gian phát triển quốc gia thống nhất trên cơ sở xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, lợi thế, bản sắc và sứ mệnh phát triển của từng vùng trong tổng thể phát triển đất nước theo hướng bền vững.
Bộ Chính trị đề ra các mục tiêu cụ thể đến năm 2030 và đến năm 2045 với 6 vùng kinh tế - xã hội. Cùng với đó, Bộ Chính trị nêu các nhóm nhiệm vụ, giải pháp.
Nhóm nhiệm vụ thứ nhất là tổ chức không gian phát triển vùng và thực hiện tốt quy hoạch vùng.
Bộ Chính trị định hướng chuyển từ việc tổ chức lại không gian phát triển theo địa giới hành chính tỉnh, thành phố sang phát triển theo chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên, môi trường và liên kết vùng, liên kết ngành, tiểu vùng và địa phương trong vùng theo chức năng đã được xác định trong quy hoạch.
Trong nhóm nhiệm vụ này còn hình thành và phát triển các hành lang kinh tế, kết nối hiệu quả các vùng động lực, cực tăng trưởng quốc gia nhằm khai thác hiệu quả không gian phát triển mới sau sắp xếp các đơn vị hành chính. Việc bố trí, sắp xếp không gian phát triển vùng có các tiểu vùng và địa phương phù hợp với chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu của các cực tăng trưởng...

Nhóm nhiệm vụ thứ hai là hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển vùng. Các công trình liên ngành, liên vùng, có ý nghĩa chiến lược quốc gia phải có cơ chế điều phối thống nhất và một đầu mối chịu trách nhiệm.
Nhóm nhiệm vụ thứ ba là đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành và phát triển các động lực kinh tế mới của vùng.
Bộ Chính trị định hướng phát triển kinh tế dữ liệu, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu, trục xuyên suốt trong phát triển vùng. Các vùng xác định các động lực tăng trưởng mới gắn với đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, chuyển đổi năng lượng, chuyển đổi cơ cấu và chất lượng nguồn nhân lực.
Kinh tế biển phát triển theo hướng hiện đại, có năng lực cạnh tranh cao; quản lý khai thác, sử dụng hiệu quả bền vững tài nguyên và không gian biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển.
Các công trình đường sắt, năng lượng, đô thị, cảng biển và hạ tầng số phải được triển khai gắn với sự phát triển của các ngành công nghiệp nội địa (xây dựng, cơ khí, luyện kim, vật liệu mới, thiết bị điện, tín hiệu, tự động hóa, phần mềm, tư vấn thiết kế và quản lý vận hành).
Đến năm 2045 có ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế
Nhóm nhiệm vụ thứ tư là phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại, đồng bộ, liên vùng. Các loại hình hạ tầng phải được tổ chức thống nhất theo hành lang kinh tế và không gian phát triển vùng. Bộ Chính trị quán triệt phải phát triển hài hòa giữa hạ tầng kinh tế, hạ tầng xã hội, hạ tầng số, dữ liệu, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; gắn việc phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội thích ứng với biến đổi khí hậu, đồng bộ với hạ tầng y tế, văn hoá, giáo dục, thể thao.

Trong đó, Bộ Chính trị gợi mở ưu tiên đầu tư xây dựng hạ tầng giao thông trục xương sống Bắc - Nam và hành lang Đông - Tây thế hệ mới; trong đó trục Bắc - Nam tích hợp đường bộ, đường sắt, hạ tầng năng lượng, cáp quang và logistics, gắn với các đô thị, trung tâm công nghiệp và dịch vụ mới, hành lang Đông - Tây kết nối vùng nội địa với cảng biển, cửa khẩu và mạng lưới logistics khu vực.
Bộ Chính trị cũng lưu ý tập trung đầu tư phát triển các tuyến đường sắt kết nối với các cảng biển lớn, đường sắt kết nối quốc tế, đường sắt đô thị, đường sắt vùng, nhất là đường sắt tốc độ cao trên trục Bắc - Nam.
Nhóm nhiệm vụ thứ năm là phát triển hệ thống đô thị hiện đại và các cực tăng trưởng của vùng. Bộ Chính trị chỉ đạo đầu tư phát triển các cực tăng trưởng, các đô thị lớn để làm tốt vai trò hình thành, dẫn dắt, lan tỏa và phát triển các hành lang đô thị - công nghiệp - dịch vụ.
Nghị quyết nêu rõ ưu tiên phát triển hai cực tăng trưởng lớn nhất đất nước là vùng đô thị Hà Nội và vùng đô thị TPHCM; có cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển một số địa phương trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đóng vai trò là các cực tăng trưởng của vùng, kết nối nội vùng, liên vùng, khu vực và quốc tế.

Mục tiêu được Bộ Chính trị đề ra phấn đấu đến năm 2045, xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế.
Các nhóm nhiệm vụ tiếp theo là phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao; đẩy mạnh phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; phát triển văn hóa, xã hội và bảo đảm an sinh xã hội toàn diện; bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế.
Nhóm nhiệm vụ cuối cùng là xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị. Trong đó, Bộ Chính trị yêu cầu hoàn thiện mô hình, tổ chức bộ máy chính quyền các cấp ở địa phương phù hợp với đặc điểm từng vùng và đặc thù các khu vực nông thôn, đô thị, miền núi, đặc khu; đẩy mạnh phân cấp, phân quyền theo phương châm địa phương quyết, địa phương làm và địa phương chịu trách nhiệm.
Bộ Chính trị lưu ý bảo đảm bộ máy hành chính sát dân hơn, hoạt động nhanh gọn và đúng nhu cầu thực tế của từng địa bàn; xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng, rèn luyện đội ngũ cán bộ các cấp đủ đức, đủ sức, đủ tài, trong đó chú trọng tiêu chuẩn hóa, trẻ hóa, chuyên môn hóa.


