Bộ Tài chính vừa có công văn gửi Bộ Tư pháp về việc hoàn thiện hồ sơ Nghị quyết của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế nhà nước. Một trong những nội dung được Bộ Tài chính lưu ý là về công tác dự trữ quốc gia.

Theo nội dung công văn, Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 6/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế nhà nước đề ra mục tiêu: Phấn đấu mức dự trữ quốc gia đạt tối thiểu 1% GDP vào năm 2030; phấn đấu đến năm 2045, mức dự trữ quốc gia đạt 2% GDP.

Trong khi đó, mức dự trữ quốc gia tính đến hết năm 2025 mới chỉ đạt khoảng 0,12% GDP. Do vậy, để đạt được mục tiêu đề ra tại các nghị quyết của Bộ Chính trị thì cần thiết Quốc hội ban hành Nghị quyết về cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển dự trữ quốc gia làm cơ sở để tổ chức thực hiện, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả.

Theo Bộ Tài chính, để đảm bảo triển khai được mục tiêu của Nghị quyết số 79-NQ/TW, Nhà nước hình thành, quản lý, sử dụng dự trữ quốc gia không chỉ đáp ứng mục tiêu xuất cấp hàng dự trữ quốc gia trong tình huống đột xuất, cấp bách mà còn thực hiện dự trữ chiến lược, là trụ đỡ quan trọng trong nền kinh tế, nhất là trong bối cảnh phải đạt mục tiêu chiến lược tăng trưởng hai con số, bảo đảm an ninh, quốc phòng, an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh lương thực, an ninh năng lượng…

Do đó, bên cạnh việc kết hợp mô hình dự trữ chiến lược của Nhà nước, doanh nghiệp và kết hợp Nhà nước với doanh nghiệp thì cần phải ưu tiên ngân sách bố trí cho dự trữ quốc gia trong việc mua tăng hàng dự trữ quốc gia, dự trữ chiến lược và đầu tư xây dựng kho dự trữ quốc gia.

Trong đó bao gồm cả việc xây dựng các kho dự trữ chiến lược về xăng dầu, dầu, dầu thô theo quy hoạch tổng thể hệ thống kho dự trữ quốc gia và hệ thống kho dự trữ quốc gia được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

Screenshot at Apr 17 16 24 25.png
Dự trữ xăng dầu ngày càng quan trọng. (Ảnh: TTXVN)

Chiến lược dự trữ quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đang xây dựng hệ thống dự trữ chiến lược quốc gia theo mô hình nhiều tầng, trong đó dự trữ quốc gia do Nhà nước quản lý giữ vai trò nòng cốt; kết hợp với dự trữ lưu thông của doanh nghiệp và năng lực sản xuất của nền kinh tế.

Nguồn lực dự phòng từ khu vực doanh nghiệp (đặc biệt là doanh nghiệp Nhà nước) và xã hội tham gia hệ thống dự trữ chiến lược quốc gia cũng là một trong những nguồn lực quan trọng.

Cần quy định cụ thể để doanh nghiệp nhà nước tham gia thực hiện dự trữ chiến lược 

Nội dung Tờ trình Dự án Nghị quyết về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế nhà nước của Bộ Tài chính nêu rõ: Hiện nay, pháp luật chưa có quy định cụ thể về cơ chế, nguồn vốn để các doanh nghiệp nhà nước tham gia thực hiện dự trữ chiến lược nhằm thực hiện tự chủ chiến lược, phát triển ổn định nền kinh tế.

Do đó, Bộ Tài chính nhận thấy, cần có quy định, cơ chế để các doanh nghiệp nhà nước sử dụng phần lợi nhuận sau thuế được để lại tham gia dự trữ chiến lược theo phân công của Chính  phủ.

Việc dự trữ các mặt hàng chiến lược về công nghệ cao, đặc thù là cần thiết để phòng trường hợp biến động của thế giới, đặc biệt trong bối cảnh thế giới bất ổn như hiện nay.

Tuy nhiên, việc dự trữ các mặt hàng này cũng tiềm ẩn rủi ro do sự thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ thế giới nên sau một thời gian dự trữ không đáp ứng yêu cầu về dự trữ chiến lược trong khi các chủ thể đã thực hiện đầy đủ các quy trình, đúng quy định của pháp luật. Cơ chế miễn trừ này cũng chưa được quy định tại Luật Dự trữ quốc gia…

Bộ Tài chính khẳng định, cần thiết phải có cơ chế bảo vệ nguồn cán bộ trong hoạt động dự trữ quốc gia nhưng cơ chế này chưa thể chế hóa tại Luật Dự trữ quốc gia. Do vậy, cần thiết bổ sung vào Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ sẽ có hướng dẫn chi tiết, cụ thể sau khi Quốc hội thông qua Nghị quyết.