Hơn nửa thế kỷ trước, chính sách sinh đẻ có kế hoạch đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử, góp phần đưa quy mô dân số về mức hợp lý và tạo nền tảng quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội. Nhưng khi đất nước bước sang một giai đoạn phát triển mới, thách thức của dân số cũng đã thay đổi.

Nỗi lo không còn là dân số tăng quá nhanh mà là mức sinh giảm xuống dưới mức thay thế ở nhiều địa phương, tốc độ già hóa thuộc nhóm nhanh nhất châu Á và nguy cơ thiếu hụt nguồn nhân lực trong tương lai.

Luật Dân số đã trao quyền để mỗi cặp vợ chồng tự quyết định số con. Nhà nước không còn can thiệp vào hành vi sinh đẻ bằng các biện pháp hành chính mà chuyển sang kiến tạo điều kiện để người dân chủ động xây dựng gia đình và sinh con. Đó là bước chuyển từ quản lý dân số sang phát triển con người.

khai giảng _17.jpg
Nhà nước không còn can thiệp vào hành vi sinh đẻ bằng các biện pháp hành chính mà chuyển sang kiến tạo điều kiện để người dân chủ động xây dựng gia đình và sinh con. Ảnh: TL

Tuy nhiên, trao quyền mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là người dân phải có khả năng thực hiện quyền đó. Giá nhà ở ngày càng cao, chi phí nuôi dạy con liên tục tăng, trong khi áp lực việc làm và thu nhập chưa được cải thiện tương xứng. Người trẻ không chỉ tính chi phí của một lần sinh con mà tính đến cả hành trình hơn hai mươi năm nuôi dạy tiếp theo.

Khuyến sinh không thể chỉ dừng ở một khoản trợ cấp khi sinh hoặc kéo dài thêm vài ngày nghỉ thai sản. Chính sách dân số phải chuyển trọng tâm từ hỗ trợ sinh con sang hỗ trợ nuôi con, từ khuyến khích hành vi sang giảm chi phí cuộc sống và tạo dựng môi trường thuận lợi để gia đình trẻ phát triển.

Đầu tư cho gia đình trẻ cũng không phải là chi tiêu an sinh đơn thuần mà là đầu tư cho tăng trưởng dài hạn. Hệ thống nhà trẻ và trường mầm non đáp ứng nhu cầu sẽ giúp nhiều phụ nữ yên tâm trở lại thị trường lao động. Chính sách nhà ở phù hợp sẽ tạo điều kiện để các cặp vợ chồng ổn định cuộc sống và mạnh dạn sinh con. Giáo dục và y tế có chất lượng với chi phí hợp lý sẽ giảm đáng kể gánh nặng của các gia đình. Những khoản đầu tư ấy tuy chưa tạo ra kết quả tức thì nhưng sẽ quyết định chất lượng nguồn nhân lực của đất nước trong nhiều thập niên tới.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, hỗ trợ tài chính chỉ là một phần của lời giải. Hàn Quốc đã đầu tư nguồn lực rất lớn cho các chương trình khuyến sinh nhưng mức sinh vẫn ở mức rất thấp bởi áp lực về nhà ở, giáo dục, việc làm và cân bằng cuộc sống chưa được giải quyết căn bản.

Sinh con là quyết định của mỗi cá nhân, nhưng duy trì mức sinh hợp lý lại là lợi ích chiến lược của quốc gia. Vì vậy, trách nhiệm không chỉ thuộc về các cặp vợ chồng mà cần được chia sẻ giữa Nhà nước, doanh nghiệp và toàn xã hội. Điều người dân cần không phải là những lời kêu gọi hay các khoản hỗ trợ ngắn hạn, mà là một môi trường sống và làm việc giúp họ không phải đánh đổi quá nhiều khi lựa chọn xây dựng gia đình.

Trong đó, bình đẳng giới là điều kiện tiên quyết. Khi sinh con đồng nghĩa với việc phụ nữ phải đánh đổi cơ hội nghề nghiệp, thu nhập và khả năng thăng tiến thì mọi chính sách khuyến sinh đều khó đạt mục tiêu. Bởi vậy, cùng với việc hoàn thiện chế độ thai sản, cần phát triển các mô hình làm việc linh hoạt, khuyến khích nam giới chia sẻ trách nhiệm chăm sóc con và bảo đảm cơ hội phát triển nghề nghiệp bình đẳng cho phụ nữ. Một xã hội muốn có nhiều trẻ em hơn trước hết phải là một xã hội thân thiện với các bậc cha mẹ.

Chính sách dân số cũng cần được thiết kế phù hợp với đặc điểm của từng vùng. Nhiều đô thị và trung tâm kinh tế đang có mức sinh rất thấp do áp lực nhà ở, việc làm và chi phí nuôi con, trong khi một số địa phương vẫn duy trì mức sinh cao nhưng chất lượng dân số còn hạn chế. Điều đó đòi hỏi các giải pháp khác nhau, song cùng hướng tới một mục tiêu thống nhất là duy trì mức sinh hợp lý gắn với nâng cao chất lượng dân số. Chính sách dân số hiện đại không chạy theo số lượng mà hướng tới sự phát triển hài hòa và bền vững.

Định hướng nghiên cứu chính sách hỗ trợ các gia đình sinh hai con gái cũng cần được nhìn nhận trong bối cảnh đó. Giá trị lớn nhất của chủ trương này không nằm ở hỗ trợ vật chất mà ở thông điệp về bình đẳng giới. Mọi trẻ em đều có giá trị như nhau và đều xứng đáng được tạo điều kiện phát triển. Chỉ khi tư tưởng trọng nam khinh nữ từng bước được thay thế bằng nhận thức bình đẳng thì tình trạng mất cân bằng giới tính khi sinh mới có thể được giải quyết một cách bền vững.

khai giảng _37.jpg
Mọi trẻ em đều có giá trị như nhau và đều xứng đáng được tạo điều kiện phát triển. Ảnh: TL

Khuyến sinh cũng không thể tách rời nhiệm vụ thích ứng với già hóa dân số. Đây là hai mặt của cùng một chiến lược phát triển. Ngay cả khi mức sinh được cải thiện từ hôm nay thì cũng phải gần hai thập niên nữa lực lượng lao động mới được bổ sung đáng kể. Trong khoảng thời gian đó, số người cao tuổi vẫn tiếp tục gia tăng, đòi hỏi phải chủ động chuẩn bị hệ thống chăm sóc sức khỏe, bảo hiểm xã hội, dịch vụ chăm sóc dài hạn và nguồn nhân lực cho lĩnh vực điều dưỡng.

Già hóa dân số không chỉ là thách thức mà còn mở ra một không gian phát triển mới. “Kinh tế bạc” với các sản phẩm và dịch vụ dành cho người cao tuổi có thể trở thành một động lực tăng trưởng quan trọng nếu được đầu tư đúng hướng. Đồng thời, cần đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ và trí tuệ nhân tạo để bù đắp sự thiếu hụt lao động trong tương lai. Tự động hóa trong sản xuất, y tế từ xa, robot hỗ trợ chăm sóc người cao tuổi hay đào tạo lại lao động lớn tuổi đều là những giải pháp giúp duy trì năng suất và nâng cao chất lượng tăng trưởng. Một xã hội già hóa không đồng nghĩa với suy giảm năng lực phát triển nếu biết khai thác hiệu quả nguồn lực của mọi thế hệ.

Chính sách dân số phải trở thành một cấu phần của chiến lược phát triển quốc gia

Nhìn rộng hơn, chính sách dân số phải trở thành một cấu phần của chiến lược phát triển quốc gia. Chính sách nhà ở, giáo dục, việc làm, thuế, an sinh xã hội, phát triển đô thị, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo đều có tác động trực tiếp đến quyết định lập gia đình và sinh con của người dân. Chỉ khi các chính sách ấy được thiết kế đồng bộ và lấy gia đình làm trung tâm, người trẻ mới có đủ niềm tin để xây dựng cuộc sống lâu dài và sinh con.

Kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy, khi mức sinh đã giảm xuống quá thấp thì việc phục hồi là quá trình rất khó khăn và tốn kém. Vì vậy, Việt Nam cần hành động sớm, quyết liệt và đồng bộ, không chỉ để duy trì mức sinh thay thế mà còn để xây dựng một xã hội thân thiện với gia đình và trẻ em. Mỗi chính sách giảm gánh nặng nuôi dạy con, mỗi bước tiến trong bình đẳng giới, mỗi cải cách nhằm thích ứng với già hóa dân số đều là khoản đầu tư cho tương lai.

Lịch sử cho thấy, mọi quốc gia thành công đều biết chuẩn bị cho tương lai từ rất sớm. Với Việt Nam, khuyến sinh không đơn thuần là khuyến khích có thêm trẻ em mà là kiến tạo những điều kiện để mỗi gia đình có thể yên tâm sinh con, nuôi con và đồng hành cùng sự trưởng thành của thế hệ kế tiếp. Khi người dân đủ niềm tin để xây dựng gia đình, đất nước sẽ có thêm nguồn nhân lực, thêm sức sáng tạo và thêm động lực phát triển.

Đến năm 2045, Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia phát triển có thu nhập cao. Khát vọng đó không chỉ được quyết định bởi tốc độ tăng trưởng hay quy mô nền kinh tế mà còn bởi chất lượng nguồn nhân lực và sức sống của mỗi gia đình Việt Nam. Một chính sách dân số hiện đại vì thế không chỉ hướng tới duy trì mức sinh hợp lý mà còn phải nuôi dưỡng những thế hệ khỏe mạnh, có tri thức, kỹ năng và khát vọng cống hiến. Đó cũng chính là nền tảng bền vững nhất để kiến tạo tương lai của đất nước.