Hết hạn nhưng không chịu trả nhà

Theo hồ sơ vụ án, nguồn gốc tranh chấp bắt đầu từ quan hệ thuê nhà từ những năm 1950. Cụ thể, bà D. là chủ sở hữu hai căn nhà số 13 và số 15 nằm trên mặt tiền một tuyến đường lớn tại TPHCM. Sau đó, bà D. cho vợ chồng bà P. thuê hai căn nhà này.

Hợp đồng thuê quy định rõ khi hết hạn, vợ chồng bà P. phải trả lại nhà, không được yêu cầu bồi thường hay tiếp tục cư trú. Tuy nhiên, sau khi hợp đồng hết hạn vào năm 1972, vợ chồng bà P. không trả lại nhà dù đã nhiều lần bị yêu cầu.

Đến năm 1987, bà D. khởi kiện đòi lại nhà. Từ đó, tranh chấp trải qua hàng loạt bản án sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm với các phán quyết trái ngược nhau.

Trong nhiều năm sau đó, dù được yêu cầu, bên thuê vẫn không trả nhà. Có thời điểm, tòa án các cấp công nhận quyền sở hữu nhà thuộc về bà D. và buộc vợ chồng bà P. trả lại nhà. Tuy nhiên, sau đó cơ quan giám đốc thẩm lại bác yêu cầu đòi nhà với lý do bà D. chưa chứng minh được nhu cầu sử dụng cấp thiết.

W-TPHCM   nguyễn huế 45.jpg
Ảnh minh họa: Nguyễn Huế

Trong khi đó, vợ chồng bà P. cho rằng trong quá trình thuê, gia đình bà đã đầu tư, xây dựng lại nhà từ hai căn ban đầu thành ba căn với diện tích lớn hơn và sử dụng ổn định trong thời gian dài. Họ cũng cho rằng không có đủ giấy tờ chứng minh quyền sở hữu ban đầu của bà D., từ đó không đồng ý trả lại nhà.

Sau khi các bên đương sự ban đầu qua đời, tranh chấp tiếp tục được các thế hệ thừa kế theo đuổi. Phía nguyên đơn là các cháu của bà D. tiếp tục khởi kiện, yêu cầu đòi lại căn nhà số 15.

Dù ban đầu tranh chấp liên quan đến cả hai căn nhà số 13 và 15, nhưng về sau nhà số 13 (gồm cả 13D) đã được cơ quan chức năng trả lại cho bà D. và được cấp giấy chứng nhận. Vì vậy, tranh chấp thực tế chỉ diễn ra đối với căn nhà số 15 - nơi gia đình bà P. vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng và chưa bàn giao.

Ở chiều ngược lại, con cháu của vợ chồng bà P. phản tố, yêu cầu công nhận quyền sở hữu đối với các căn nhà, đồng thời đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sở hữu đã cấp cho bà D. trước đó.

Đề xuất đổi nhà để chấm dứt tranh chấp

Vụ án từng được xét xử lại vào năm 2010 với phán quyết buộc phía vợ chồng bà P. trả nhà. Tuy nhiên, bản án này sau đó bị hủy để điều tra, xét xử lại từ đầu.

Đến năm 2020, TAND TPHCM tuyên án sơ thẩm lần cuối, chấp nhận yêu cầu của các cháu bà D. Theo đó, tòa buộc những người đang cư trú tại căn nhà số 15 phải di dời, trả lại nhà cho các thừa kế của bà D. Đồng thời, tòa ghi nhận việc các cháu bà D. tự nguyện hỗ trợ phía bị đơn số tiền 150 triệu đồng để ổn định chỗ ở mới.

Ngoài ra, tòa đình chỉ xem xét nhiều yêu cầu phản tố của con cháu vợ chồng bà P. liên quan đến việc công nhận quyền sở hữu nhà đất và yêu cầu bồi thường chi phí sửa chữa do các bên đã rút yêu cầu.

Không đồng ý với phán quyết trên, con gái của bà P. kháng cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, con gái bà P. cho rằng gia đình mình mới là người tạo lập, quản lý và sử dụng ổn định các căn nhà từ những năm 1960. Bà đề xuất phương án thỏa thuận: nếu được công nhận sở hữu căn nhà số 15 thì bà đồng ý để các cháu bà D. sở hữu hai căn nhà số 13 và 13D nhằm chấm dứt tranh chấp kéo dài hơn 40 năm. Nhiều đương sự liên quan cũng đồng thuận với ý kiến này.

Ngược lại, các cháu bà D. khẳng định có đầy đủ giấy tờ chứng minh quyền sở hữu của bà D. đối với các căn nhà và việc cho thuê là hợp pháp.

Sau khi xem xét, Hội đồng xét xử TAND cấp cao tại TPHCM nhận định tranh chấp quyền sở hữu nhà đã được giải quyết bằng các bản án có hiệu lực pháp luật trước đó, đồng thời xác định quan hệ giữa hai bên là quan hệ thuê nhà. Tòa kết luận các con cháu của bà P. không cung cấp được chứng cứ mới có giá trị, do đó không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.

Vì vậy, TAND cấp cao tại TPHCM quyết định bác kháng cáo của con gái bà P., giữ nguyên bản án sơ thẩm, buộc các bị đơn phải giao trả căn nhà số 15 cho các cháu bà D. và di dời trong thời hạn luật định.