Tháng 8/2026, tỉnh Gia Lai hoàn thành một công việc quan trọng là xác định cụ thể các thôn thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS), miền núi và các thôn đặc biệt khó khăn giai đoạn 2026-2030.
Theo danh sách được UBND tỉnh phê duyệt, toàn tỉnh có 956 thôn thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi, trong đó 647 thôn có yếu tố DTTS, 936 thôn thuộc khu vực miền núi và 410 thôn đặc biệt khó khăn. Các địa bàn này trải rộng từ An Lão, An Vinh, An Toàn, Vĩnh Thạnh, Vân Canh ở phía Đông đến Chư Păh, Kbang, Mang Yang, Chư Prông, Đức Cơ, Ia Grai, Chư Sê, Phú Thiện, Phú Túc… ở phía Tây.
Cùng với đó, 93 xã, phường được xác định thuộc vùng đồng bào DTTS và miền núi, gồm 7 địa phương khu vực I, 13 địa phương khu vực II và 73 địa phương khu vực III. Đáng chú ý, một số xã như An Vinh, An Toàn, Đak Rong, Krong, Kon Chiêng, SRó, Đăk Song, Chơ Long, Ia Pnôn có 100% số thôn thuộc diện đặc biệt khó khăn.

Những năm qua, các chương trình mục tiêu quốc gia đã trở thành nguồn lực quan trọng để giải quyết từng bước những khó khăn đó. Riêng giai đoạn 2021 - 2025, nguồn vốn đầu tư thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi trên địa bàn đạt hơn 1.689 tỷ đồng. Nguồn lực được tập trung cho giảm nghèo, phát triển sinh kế, giáo dục, y tế, nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt và những nhu cầu thiết yếu khác.
Hiệu quả không chỉ nằm ở những công trình được xây dựng. Quan trọng hơn là khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của đồng bào từng bước được cải thiện. Các chính sách hỗ trợ sinh kế tạo thêm điều kiện phát triển sản xuất; bảo hiểm y tế giúp giảm gánh nặng chi phí khám chữa bệnh; đầu tư giáo dục mở thêm cơ hội học tập cho trẻ em vùng sâu, vùng xa.
Cùng với những chính sách truyền thống, năm 2026 còn xuất hiện một chuyển động đáng chú ý: kỹ năng số bắt đầu trở thành một phần của an sinh và phát triển vùng DTTS. Gia Lai đang triển khai phong trào “Bình dân học vụ số”, hướng đến phổ cập những kỹ năng số cơ bản cho người dân.
Điều đó mang ý nghĩa lớn đối với vùng miền núi. Khi người dân biết sử dụng điện thoại thông minh, tiếp cận dịch vụ công trực tuyến, tìm kiếm thông tin sản xuất, thị trường và quảng bá sản phẩm trên môi trường số, khoảng cách về cơ hội phát triển giữa miền núi với đô thị có thêm điều kiện để từng bước được thu hẹp.
Một kết quả nghiên cứu công bố tháng 4/2026 trên Tạp chí Lý luận chính trị chỉ ra rằng sinh kế của một bộ phận đồng bào DTTS vẫn phụ thuộc nhiều vào nông nghiệp quy mô nhỏ; việc làm thiếu ổn định; nhiều gia đình còn thiếu hụt về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sinh hoạt, vệ sinh môi trường và tiếp cận thông tin. Hiệu quả giảm nghèo ở một số địa bàn vì thế chưa thực sự bền vững.
Đất ở và đất sản xuất cũng là một trong những bài toán khó. Quỹ đất hạn chế, mức hỗ trợ có thời điểm chưa theo kịp giá thị trường, cùng những vướng mắc về thủ tục và pháp lý đất đai ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện một số chính sách. Chất lượng giáo dục, y tế ở một số vùng sâu, vùng xa vẫn còn khoảng cách so với khu vực thuận lợi.
Chính vì vậy, chuyển động tích cực ở vùng đồng bào DTTS Gia Lai trong giai đoạn mới không thể chỉ được đo bằng số tiền đầu tư hay số công trình hoàn thành. Điều quan trọng hơn là khả năng tạo ra sinh kế ổn định và năng lực tự phát triển cho người dân.
Từ thực tiễn đó, hướng đi đặt ra là tiếp tục lồng ghép hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia; gắn hỗ trợ sản xuất với thị trường; đào tạo nghề với nhu cầu việc làm; đồng thời giải quyết tốt hơn những thiếu hụt về nhà ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt, giáo dục và chăm sóc sức khỏe. Việc phát huy vai trò của già làng, người có uy tín, trưởng thôn và cán bộ cơ sở cũng đặc biệt quan trọng trong vận động người dân thay đổi nếp nghĩ, cách làm và chủ động tiếp cận chính sách.
Việc Gia Lai xác định 410 thôn đặc biệt khó khăn trong tổng số 956 thôn vùng đồng bào DTTS và miền núi cũng cho thấy chặng đường phía trước còn nhiều việc phải làm. Nhưng chính việc nhận diện rõ từng vùng khó khăn là tiền đề để chính sách trong giai đoạn 2026 - 2030 đi trúng hơn vào những điểm nghẽn của đời sống.
Từ những con đường, trường học, công trình nước sinh hoạt đến những mô hình sinh kế, chính sách y tế, giáo dục và phổ cập kỹ năng số, một diện mạo mới đang từng bước hình thành ở nhiều vùng đồng bào DTTS Gia Lai. Đích đến của quá trình ấy không chỉ là thu hẹp khoảng cách phát triển, mà còn tạo điều kiện để đồng bào có sinh kế bền vững, chủ động tiếp cận những cơ hội mới và tự mình vươn lên.
Khi nguồn lực của Nhà nước gặp được nội lực của cộng đồng, những chuyển động hôm nay mới có thể trở thành nền tảng cho sự phát triển lâu dài của vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi Gia Lai.
Gia Bình