Bỏ việc văn phòng, trở về nối nghiệp gia đình

Làng Dương Ổ, còn gọi là Đống Cao, thuộc phường Võ Cường, TP Bắc Ninh, từng nổi tiếng với nghề làm giấy dó, cung cấp sản phẩm cho nhiều địa phương ở miền Bắc.

Ngày nay, số gia đình còn duy trì nghề làm giấy dó truyền thống ở TP Bắc Ninh không nhiều. Trong số đó, chị Ngô Thu Huyền (SN 1991), sinh ra trong gia đình có nhiều đời làm giấy dó, đang nỗ lực tìm hướng đi mới để gìn giữ nghề truyền thống của cha ông.

W-làm giấy dó_17.JPG.jpg
Chị Ngô Thu Huyền trở về quê, nối nghiệp gia đình, góp phần gìn giữ nghề làm giấy dó truyền thống ở Đống Cao, Bắc Ninh

Sau khi tốt nghiệp Khoa Ngoại ngữ, Trường Đại học Phương Đông, chị Huyền ở lại Hà Nội làm việc. Hai năm gắn bó với môi trường công sở mang đến cho chị công việc ổn định với mức thu nhập 10 triệu đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, hình ảnh xưởng giấy của ông nội cùng những công đoạn làm giấy thủ công vẫn luôn hiện hữu trong tâm trí chị.

“Ngồi trong văn phòng máy lạnh, nhưng tâm trí tôi lại luôn nghĩ về bể bột, về những tờ giấy mỏng manh từng nuôi sống cả gia đình. Tôi nhận ra, nếu mình không trở về thì nghề của ông bà có thể chỉ còn là ký ức”, chị Huyền chia sẻ.

Năm 2017, chị quyết định từ bỏ công việc ở thành phố, trở về quê nối nghiệp gia đình. Quyết định này khiến nhiều người bất ngờ bởi nghề làm giấy dó vất vả, thu nhập không ổn định, trong khi cơ hội việc làm ở đô thị tốt hơn.

“Ai cũng bảo tôi liều, nhưng tôi nghĩ nếu thế hệ trẻ không tiếp nối thì làng nghề rồi sẽ mất đi. Mình còn trẻ thì còn có thể thử, còn có thể giữ lại những giá trị mà cha ông để lại”, chị Huyền nói.

W-làm giấy dó_10.JPG.jpg
Người thợ làng Đống Cao tỉ mỉ thực hiện công đoạn xeo giấy dó bằng phương pháp thủ công

Dù lớn lên trong gia đình có truyền thống làm giấy, chị vẫn phải học lại gần như từ đầu. Từ ngâm vỏ dó, nấu nguyên liệu, giã bột, lọc xơ đến xeo giấy, mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự kiên nhẫn, tỉ mỉ của người thợ.

Những ngày đầu theo nghề, đôi tay chị thường xuyên ngâm trong nước đến nhăn nheo. Mùa đông, việc đứng hàng giờ bên bể bột lạnh buốt khiến hai tay chị tê cứng.

“Trời rét cắt da cắt thịt, tay tôi vẫn ngâm trong nước lạnh hàng giờ liền. Nhấc tay lên tôi không còn cảm giác gì nữa”, chị kể.

W-làm giấy dó_16.JPG.jpg
Từ vỏ cây dó, qua nhiều công đoạn xử lý cầu kỳ, người thợ tạo nên những tờ giấy dai, bền

Khó khăn lớn không kém là đầu ra cho sản phẩm. Có thời điểm, mỗi tháng xưởng chỉ bán được vài trăm tờ giấy, doanh thu chưa đến 20 triệu đồng, trong khi phải trang trải chi phí nguyên liệu, điện nước và nhân công. Khách hàng chủ yếu là người chơi thư pháp, nghệ nhân truyền thống nên thị trường tiêu thụ khá hạn chế.

Trước thực tế đó, chị Huyền nhận ra muốn giữ nghề lâu dài, bên cạnh tình yêu với truyền thống, người thợ cần tìm cách thích ứng với nhu cầu thị trường.

Đưa giấy dó lên không gian mạng

Thay vì chỉ sản xuất giấy dó theo cách truyền thống, chị Huyền chủ động phát triển thêm các dòng sản phẩm mới như giấy dó in vân lá ngải cứu, giấy màu tự nhiên, thiệp thủ công, sổ tay, túi giấy và quà tặng.

Năm 2019, chị bắt đầu giới thiệu sản phẩm trên mạng xã hội và các sàn thương mại điện tử. Trên mạng xã hội, chị đăng tải hình ảnh, video về quy trình xeo giấy, phơi giấy và câu chuyện phía sau mỗi sản phẩm.

Từ nỗ lực của chị, giấy dó Đống Cao dần tiếp cận nhóm khách hàng mới, trong đó có họa sĩ, nhà thiết kế, trường mỹ thuật, kiến trúc sư và các đơn vị làm quà tặng doanh nghiệp. Chị cũng nhận điều chỉnh độ dày, mỏng của giấy theo yêu cầu để phục vụ vẽ tranh, in ấn, phục chế tài liệu và in kinh Phật.

W-làm giấy dó_15.JPG.jpg
Giữa xưởng nhỏ thoang thoảng mùi vỏ dó, đôi tay chị Huyền miệt mài bên bể bột, thoăn thoắt xeo từng tờ giấy mỏng nhẹ

Thay vì chờ khách tìm đến, chị chủ động kết nối, tư vấn và giới thiệu những ứng dụng của giấy dó trong đời sống hiện đại. Không gian mạng trở thành cầu nối giúp một sản phẩm thủ công truyền thống tiếp cận người trẻ, đồng thời lan tỏa câu chuyện văn hóa của làng nghề.

Sau nhiều năm kiên trì đổi mới, cơ sở của chị dần có đầu ra ổn định, cung cấp hàng nghìn tờ giấy cùng các sản phẩm thủ công mỗi tháng cho khách hàng tại Hà Nội, Đà Nẵng, TPHCM và có đơn hàng xuất khẩu sang Nhật Bản, châu Âu.

Xưởng giấy hiện tạo việc làm thường xuyên cho 4-5 lao động địa phương. Dù quy mô chưa lớn, hoạt động sản xuất đã mang lại nguồn thu ổn định hơn, nhất là vào những dịp cao điểm.

W-di dời biệt thự ở Bắc Ninh_20.JPG.jpg
Giấy dó được dùng trong việc bảo tồn tranh dân gian Đông Hồ, cũng như phục chế sắc phong, thần phả, gia phả tại nhiều cơ quan lưu trữ, bảo tàng và di tích trên cả nước
W-làm giấy dó_18.JPG.jpg
Sản phẩm giấy dó bồi hoa lá để làm bưu thiếp hoặc bìa sổ
W-làm giấy dó_12.JPG.jpg
Các sản phẩm giấy dó được sáng tạo thành sổ tay, thiệp thủ công và quà tặng, đáp ứng nhu cầu của khách hàng hiện đại

Theo chị Huyền, khách hàng ngày nay không chỉ quan tâm đến chất lượng mà còn chú ý đến câu chuyện văn hóa, nguồn gốc và giá trị thủ công của sản phẩm. Vì vậy, bên cạnh sản xuất, chị còn đón khách đến tham quan, trải nghiệm công đoạn xeo giấy tại xưởng.

“Giữ nghề bây giờ không chỉ cần tình yêu, mà còn phải biết thích ứng với thị trường và thay đổi cách làm”, chị chia sẻ.

Không chỉ gia đình chị Huyền, một số hộ dân ở Dương Ổ cũng đang bền bỉ giữ nghề làm giấy dó. Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Thăng, gia đình ông có gần 200 năm làm giấy, từng sản xuất giấy viết, giấy in truyền đơn và báo.

Vỏ dó sau khi được ngâm vôi, nấu mềm trong khoảng 1-2 ngày, rồi rửa sạch, loại bỏ phần xấu và nghiền thành bột. Người thợ dùng khuôn xeo dàn bột giấy thành lớp mỏng, để ráo nước, sau đó ép, bóc và phơi khô.

W-làm giấy dó13.JPG.jpg
Dù giấy công nghiệp ngày càng phổ biến, một số gia đình ở Đống Cao vẫn bền bỉ giữ nghề truyền thống
W-làm giấy dó_19.JPG.jpg
Nghề làm giấy dó ở Đống Cao được tiếp nối bằng sự tâm huyết của những người thợ và sức sáng tạo của thế hệ trẻ

Trong quá trình này, nhựa cây mò giúp các sợi giấy phân tán đều trong nước, hạn chế lắng đọng. Độ bền của giấy phụ thuộc vào kỹ thuật xử lý, liên kết sợi và điều kiện bảo quản.

“Các loại giấy dó này làm thủ công, không dùng hóa chất, in trăm năm không bị mất chữ”, ông Thăng chia sẻ.