Từng hoạt động giữa lòng địch, bị bắt, tra tấn nhưng không khuất phục, Anh hùng Ngô Thị Huệ đã đi qua tù đày, mất mát và những vết thương không lành. Ở tuổi ngoài 80, “con sóc nhỏ” năm nào vẫn lặng lẽ kể lại ký ức một thời lửa đạn cho thế hệ trẻ.
LỜI TÒA SOẠN
Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trong ký ức của những người mẹ, người vợ, người đồng đội và trong những ngôi làng mỗi năm làm giỗ chung ngày 27/7, những hy sinh vẫn chưa bao giờ khép lại.
Họ là những người phụ nữ bước ra từ chiến tranh với những số phận khác nhau: người con gái Pa Kô từng bắn rơi máy bay Mỹ; nữ biệt động thành Huế 4 lần sa vào tay địch vẫn không khai nửa lời; nữ điệp báo Đà Nẵng sống nhiều thân phận để giữ bí mật cho tổ chức; người mẹ thương binh 81% thêm một lần mất con trong nhiệm vụ cứu hộ giữa thời bình; và nữ cựu binh suốt 20 năm băng rừng, lội suối tìm hài cốt liệt sĩ…
Tuyến bài “Khi chiến tranh đi qua, lời thề ở lại” là hành trình VietNamNet tìm về những con người, gia đình và làng quê đã đi qua bom đạn, tù đày, thương tật và mất mát; để thấy hòa bình hôm nay không chỉ được viết bằng chiến công, mà còn bằng những lời thề lặng lẽ được giữ trọn qua nhiều thế hệ.
Cái tên ấy đi theo bà suốt những năm tháng hoạt động điệp báo giữa lòng địch. Nhỏ bé, nhanh nhẹn, mưu trí, bà nhiều lần băng qua các trạm gác, chuyển tài liệu mật, móc nối cơ sở cách mạng ngay trong nội thành Đà Nẵng.
Hơn nửa thế kỷ sau chiến tranh, trong căn nhà nhỏ cuối đường Tân Lập 2, phường Hải Châu, TP Đà Nẵng, người nữ điệp báo năm xưa ngồi kể lại những lần hóa trang, những mật thư giấu kín và cả những mất mát không thể gọi thành tên.
Sáu tháng tù không khuất phục
Bà Ngô Thị Huệ, bí danh Minh Hiệp, sinh năm 1942 tại làng Hương Phát, xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang, nay thuộc phường Liên Chiểu, TP Đà Nẵng.
Sinh ra trong gia đình giàu truyền thống cách mạng, mẹ bà sau này được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Cha bà là chiến sĩ cách mạng, từng bị địch bắt giam, tra tấn đến mù lòa.
Hơn 10 tuổi, cô bé Ngô Thị Huệ đã nhận những nhiệm vụ đầu tiên: rải truyền đơn, canh gác, báo tin cho lực lượng cách mạng.
Anh hùng Ngô Thị Huệ trong bộ quân phục với những huân, huy chương ghi dấu một đời cống hiến
Năm 1959, khi địch lập ấp chiến lược, Ngô Thị Huệ theo gia đình vào khu dồn dân. Theo chỉ đạo của tổ chức, bà sống như một người dân bình thường nhưng âm thầm quan sát quy luật hoạt động của những tên ác ôn, chức sắc ở địa phương.
Những thông tin bà thu thập góp phần giúp lực lượng cách mạng tổ chức nhiều trận đánh; đồng thời phát hiện vị trí địch cài mìn, lựu đạn để lực lượng cách mạng ra vào ấp chiến lược an toàn.
Đầu năm 1960, trong một lần nhận nhiệm vụ treo cờ Mặt trận, Ngô Thị Huệ bị địch phát hiện, bắt giữ. Cô gái chưa đầy 20 tuổi bị đưa vào nhà lao Hiếu Đức, rồi chuyển sang nhà lao Hội An, chịu nhiều trận tra tấn nhằm buộc khai ra tổ chức, đồng đội và các cơ sở cách mạng.
Nhưng người con gái nhỏ bé ấy không khai nửa lời. “Càng tra tấn, chúng càng không khai thác được gì”, bà nhớ lại.
Sáu tháng trong ngục tù để lại trên cơ thể bà nhiều thương tích. Đau đớn hơn, những di chứng chiến tranh đã cướp đi thiên chức làm mẹ của người phụ nữ. Nhưng khi được thả, vừa hồi phục sức khỏe, bà lại tiếp tục nhận nhiệm vụ.
Sống nhiều thân phận trong một cuộc đời
Không lâu sau, Ngô Thị Huệ được điều về Ban An ninh Quảng Đà với bí danh Minh Hiệp. Nhiệm vụ của bà là trực tiếp ra vào nội thành Đà Nẵng để móc nối cơ sở, chuyển tài liệu, thu thập tin tức và xây dựng mạng lưới điệp báo phục vụ lực lượng cách mạng.
Đó là công việc không có tiếng súng ngay trước mặt, nhưng hiểm nguy rình rập trong từng bước chân. Một ánh mắt nghi ngờ, một lần khám xét bất thường hay một sơ suất nhỏ cũng có thể khiến người điệp báo bị lộ, kéo theo sự đổ vỡ của cả mạng lưới cơ sở.
Bà Huệ bảo, người làm công tác điệp báo phải biết “sống nhiều cuộc đời trong một cuộc đời”. Mỗi lần bước vào nội thành là một lần khoác lên mình một thân phận khác.
Có hôm bà xuất hiện trong tà áo dài nền nã của một thiếu nữ thành thị. Hôm khác, bà mặc đồ cao bồi, đeo kính râm, cầm điếu thuốc trên tay để hóa thân thành một phụ nữ cá tính. Chiếc hộp phấn, đôi kính, chiếc nón lá hay mũ nồi đều có thể trở thành “đạo cụ” giúp che giấu thân phận thật.
Bà Ngô Thị Huệ, trinh sát Ban An ninh Quảng Đà, cải trang đi lại hoạt động nắm tình hình địch tại Đà Nẵng năm 1973. Ảnh tư liệu
Theo hồ sơ và lời kể của bà, trong quá trình hoạt động, bà tham gia nhiều nhiệm vụ quan trọng, góp phần xây dựng mạng lưới cơ sở cách mạng trong nội thành Đà Nẵng.
Một trong những nhiệm vụ khiến bà nhớ nhất diễn ra trước cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968. Khi ấy, bà được giao chuyển tài liệu mật vào số 30 Nguyễn Du để gặp đồng chí Nguyễn Cam, Phó ban An ninh Quảng Đà, người đang hoạt động bí mật trong vai trò cố vấn cho Trần Đăng Sơn.
Trên đường vào nội thành, đi ngang đường Ông Ích Khiêm, bà thấy hai chiến sĩ cách mạng bị địch trói tay, áp giải về Ty Công an. Đó là những đồng chí bà quen biết. Tim bà thắt lại, nhưng gương mặt vẫn phải bình thản như một người qua đường.
Với người điệp báo, một ánh mắt chệch đi cũng có thể làm lộ nhiệm vụ, kéo theo sự đổ vỡ của cả đường dây.
“Dù rất đau xót nhưng tôi phải coi như không quen biết. Lúc đó tôi chỉ có một suy nghĩ duy nhất là phải giữ bình tĩnh để hoàn thành nhiệm vụ. Nếu mình bị lộ thì không chỉ bản thân gặp nguy hiểm mà tài liệu cũng không đến được nơi cần đến”, bà nhớ lại.
Đến số 30 Nguyễn Du, qua nhiều lớp kiểm soát, bà tìm cách đưa tài liệu giấu trong bao thuốc lá đến đúng người cần gặp. Sau đó, bà nhận chỉ thị viết bằng mực hóa học trên một tờ báo rồi nhanh trí xé phần đầu tờ báo dùng để gói bánh kẹo, biến vật mang chỉ thị mật thành món đồ bình thường giữa phố.
Nhắc lại những chuyến đi năm ấy, bà nói điều khiến mình nhớ nhất không phải nỗi sợ, mà là trách nhiệm.
“Đi làm nhiệm vụ thì ai cũng biết có thể không trở về. Nhưng khi đã nhận nhiệm vụ thì chỉ nghĩ làm sao hoàn thành cho bằng được”, bà nói.
Anh hùng Ngô Thị Huệ chụp ảnh cùng Tổng Bí thư Tô Lâm (hiện là Tổng Bí thư, Chủ tịch nước) và các đại biểu tại cuộc gặp mặt người có công tiêu biểu khu vực miền Trung - Tây Nguyên nhân dịp kỷ niệm 50 năm thống nhất đất nước
“Còn sức là còn cống hiến”
Đầu năm 1969, trong một lần đưa cán bộ đi công tác, bà Huệ bị mảnh bom găm vào đầu. Vết thương quá nặng, tổ chức khẩn trương đưa bà rời chiến trường, chuyển ra Bệnh viện E ở Hà Nội điều trị.
Những cơn đau kéo dài khiến sức khỏe bà suy kiệt. Cùng lúc ấy, những mất mát liên tiếp ập đến. Hai người anh lần lượt hy sinh trên chiến trường. Cha bà qua đời vì vết thương cũ tái phát sau nhiều năm bị địch tra tấn. Bản thân bà phải sống chung với những cơn động kinh do di chứng chiến tranh.
Biết hoàn cảnh của nữ chiến sĩ quê Quảng Đà, cố Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn nhiều lần đến Bệnh viện E thăm hỏi, động viên và nhận bà làm con nuôi.
Chiến tranh lấy đi của bà nhiều thứ, nhưng cũng mang đến một mối duyên đặc biệt. Đó là người bạn đời của bà, ông Trần Việt Trí, người đồng đội bà gặp lần đầu trong chính nhà tù của địch.
Khi ấy, chứng kiến cô gái nhỏ bé chịu hết đòn roi này đến cực hình khác mà vẫn một mực không khai báo, ông Trí vừa khâm phục, vừa xót xa.
Ảnh tư liệu bà Huệ và chồng thời trẻ
Sau nhiều năm xa cách, họ gặp lại nhau tại Bệnh viện E. Lúc ấy, ông Trí đang công tác tại bệnh viện.
Người vợ đầu của ông đã qua đời vì vết thương chiến tranh, để lại 2 con nhỏ. Còn bà Huệ vẫn ngày ngày chống chọi với những cơn đau do mảnh bom găm vào đầu và những di chứng nặng nề sau thời gian bị địch tra tấn.
Mỗi lần nhìn bà lên cơn đau, ông Trí lại lặng lẽ lau nước mắt. Sự cảm thông giữa hai con người cùng đi qua chiến tranh dần trở thành tình yêu. Nhìn 2 con nhỏ của ông Trí sớm thiếu vắng tình thương của mẹ, tình mẫu tử trong bà trỗi dậy.
Năm 1975, hai người quyết định về chung một nhà. Cố Bộ trưởng Trần Quốc Hoàn chính là người đứng ra tác thành và làm chủ hôn. Mười năm sau, bà Huệ được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.
Chiến tranh khiến bà không thể sinh con, nhưng trong mái ấm nhỏ sau ngày thống nhất, bà dành trọn tình yêu thương để chăm sóc 2 người con riêng của chồng.
Giờ đây, dù cả hai vợ chồng đều là thương binh nặng, bà Huệ vẫn tích cực tham gia hoạt động ở địa phương và công tác giáo dục truyền thống.
“Mỗi dịp 27/7, tôi lại chuẩn bị mâm cơm cúng chung để tưởng nhớ những đồng đội đã ngã xuống”, bà chia sẻ.
Những bức ảnh cũ trong căn nhà nhỏ lưu giữ ký ức về một đời hoạt động cách mạng của nữ điệp báo "con sóc nhỏ"
Với bà, mỗi cuộc gặp gỡ học sinh, sinh viên hay cán bộ, chiến sĩ công an hôm nay đều là một lần tiếp tục nhiệm vụ của người chiến sĩ cách mạng. Bà không kể về chiến tranh để nhắc đến chiến công của bản thân, mà để thế hệ trẻ hiểu rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng những hy sinh không phải lúc nào cũng có thể gọi thành tên.
Hơn nửa thế kỷ sau ngày đất nước thống nhất, “con sóc nhỏ” không còn phải hóa trang giữa lòng địch, không còn mang mật thư qua những lớp kiểm soát hiểm nguy. Nhưng với bà, nhiệm vụ của người chiến sĩ chưa bao giờ kết thúc.
“Chừng nào còn sức khỏe thì chừng đó còn phải cống hiến”, bà xúc động.