Cho tới bây giờ, tôi vẫn suy nghĩ về những người trở thành bác sĩ sau 6 năm học đại học, vượt qua kỳ thi tuyển bác sĩ nội trú rồi bước vào thêm 3 năm vừa học, vừa trực và tham gia công việc lâm sàng với cường độ rất cao. So sánh nào cũng có giới hạn, nhưng câu chuyện ấy gợi ra một câu hỏi đang trở nên cấp thiết với nghiên cứu sinh toàn thời gian: Khi việc học đã mang đầy đủ đặc điểm của lao động trí óc chuyên nghiệp, liệu người thực hiện nó có thể tiếp tục chỉ được nhìn nhận như một người học phải tự đóng tiền?

Từ các khóa tuyển sinh năm 2027, đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam chỉ được tổ chức theo hình thức chính quy. Quy chế mới không buộc mọi nghiên cứu sinh đều phải nghỉ việc để học toàn thời gian nhưng đặt ra yêu cầu rõ hơn về thời lượng học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo và khối lượng tín chỉ hằng năm.

Với những người lựa chọn hoặc được tuyển vào chương trình toàn thời gian, bài toán lớn nhất không chỉ là năng lực học thuật mà còn là nguồn sống trong 3 đến 4 năm theo đuổi luận án.

nghien cuu khoa hoc.jpg
Từ các khóa tuyển sinh năm 2027, đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam chỉ được tổ chức theo hình thức chính quy. Ảnh: TL

Ý tưởng đứng sau quy định mới là hợp lý. Một luận án tiến sĩ không thể được thực hiện như công việc tranh thủ vào buổi tối hoặc cuối tuần. Muốn tạo ra tri thức mới, người học phải có thời gian đọc, thử nghiệm, thu thập dữ liệu, xử lý kết quả, viết, sửa và nhiều lần làm lại. Không ít luận án kéo dài vì nghiên cứu luôn phải xếp sau công việc cơ quan, gia đình và áp lực mưu sinh.

Nhưng đòi hỏi đầu ra học thuật cao chỉ có thể tồn tại trên một cơ chế tài chính tương ứng.

2 câu hỏi cần phải trả lời

Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo về năm học 2024-2025, cả nước có hơn 12.500 nghiên cứu sinh đang theo học chương trình tiến sĩ. Trong năm học này, các cơ sở đào tạo tuyển mới 4.077 nghiên cứu sinh trên tổng số 7.068 chỉ tiêu, đạt 57,6%. Nhiều người trong số họ là giảng viên, chuyên viên, bác sĩ, kỹ sư hoặc cán bộ quản lý đã có công việc và trách nhiệm gia đình. Nếu học toàn thời gian, họ có thể phải giảm mạnh hoặc từ bỏ thu nhập trong khi vẫn phải đóng học phí và tự chi cho khảo sát, thí nghiệm, hội thảo, công bố khoa học và sinh hoạt trong nhiều năm.

Nghịch lý nằm ở chỗ chúng ta đang tiếp cận chuẩn học thuật quốc tế nhưng vẫn giữ một cơ chế tài chính chủ yếu dựa vào khả năng tự xoay xở của người học. Điều đó có thể khiến chương trình tiến sĩ trở thành lựa chọn của người có điều kiện tài chính hơn là người có năng lực nghiên cứu tốt nhất.

Một số trường đại học trong nước đã bắt đầu miễn học phí, cấp sinh hoạt phí hoặc tuyển nghiên cứu sinh đồng thời làm nghiên cứu viên. Đây là tín hiệu tích cực nhưng mới tập trung ở một số cơ sở có tiềm lực. Trên quy mô toàn hệ thống, nghiên cứu sinh vẫn chủ yếu được nhìn nhận như người tiếp nhận đào tạo trong khi nhiều người đã trực tiếp trợ giảng, tham gia đề tài, vận hành phòng thí nghiệm và tạo ra sản phẩm khoa học cho trường đại học.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy không phải quốc gia nào cũng gọi nghiên cứu sinh là “người lao động”. Nhưng ở những hệ thống đào tạo nghiêm túc, nguyên tắc khá rõ: nếu đòi hỏi người học dành phần lớn thời gian cho nghiên cứu, xã hội phải chia sẻ chi phí của quá trình ấy.

Tại Đức, nhiều nghiên cứu sinh được tuyển vào dự án hoặc nhóm nghiên cứu với tư cách nhân viên khoa học. Họ ký hợp đồng với trường đại học hoặc viện nghiên cứu, được trả lương theo thỏa ước lao động, tham gia bảo hiểm và có quyền nghỉ phép. Nghiên cứu sinh trong trường hợp này không chỉ “được hỗ trợ để học” mà được trả công vì tham gia tạo ra tri thức cho tổ chức.

Vương quốc Anh đi theo hướng khác. Nhiều nghiên cứu sinh nhận học bổng sinh hoạt thay vì trở thành nhân viên của trường. Cách làm này giúp khoản hỗ trợ được miễn thuế nhưng cũng làm lộ ra giới hạn về an sinh. Khi giá thuê nhà và chi phí sinh hoạt tăng nhanh, mức học bổng dù được điều chỉnh vẫn có thể chỉ đủ cho một cá nhân sống tiết kiệm, còn người đã có gia đình dễ rơi vào cảnh chật vật.

Bài học ở đây không phải Việt Nam phải sao chép nguyên trạng mô hình Đức hay Anh. Điều quan trọng hơn là phải trả lời thẳng 2 câu hỏi: Khoản hỗ trợ có đủ để người học sống và nghiên cứu hay không? người nghiên cứu được bảo vệ thế nào trước những rủi ro của học thuật, sức khỏe và hoàn cảnh gia đình?

Chuẩn học thuật không thể đứng một mình

Nước Pháp cung cấp một hướng đi gần với nhu cầu của Việt Nam hơn thông qua chương trình tiến sĩ công nghiệp CIFRE. Nghiên cứu sinh ký hợp đồng lao động với doanh nghiệp trong 3 năm, đồng thời thực hiện luận án dưới sự hướng dẫn của cơ sở đào tạo. Nhà nước hỗ trợ một phần chi phí và áp dụng ưu đãi thuế nghiên cứu. Doanh nghiệp có nhân lực giải quyết một bài toán thật; trường đại học có đề tài gắn với thực tiễn; còn nghiên cứu sinh có thu nhập và con đường nghề nghiệp rõ ràng hơn.

Đan Mạch cũng phát triển mô hình tiến sĩ công nghiệp với sự tham gia của quỹ đổi mới, doanh nghiệp và trường đại học. Điểm đáng chú ý không chỉ nằm ở tiền lương mà ở việc rủi ro được chia sẻ giữa các bên. Nghiên cứu có thể thất bại, giả thuyết có thể không được chứng minh, hướng tiếp cận có thể phải thay đổi. Những khả năng ấy được coi là một phần bình thường của khoa học chứ không mặc nhiên biến thành nghĩa vụ bồi hoàn toàn bộ kinh phí của người học.

Vậy nên, với Việt Nam, tôi cho rằng có một số nội dung cần thực hiện ngay.

Trước hết, cần xác lập một gói tài chính tối thiểu đối với chương trình tiến sĩ toàn thời gian. Không nhất thiết mọi nghiên cứu sinh đều phải ký cùng một loại hợp đồng, nhưng trước khi tuyển sinh, cơ sở đào tạo phải công khai người học được miễn hoặc hỗ trợ bao nhiêu học phí, có sinh hoạt phí hay không, được trả công thế nào khi trợ giảng, làm thí nghiệm, tham gia đề tài và tạo ra sản phẩm nghiên cứu. Một chương trình không chứng minh được nguồn lực tối thiểu thì không nên tuyển nghiên cứu sinh toàn thời gian chỉ để đủ chỉ tiêu.

Thứ hai, cần phát triển tiến sĩ công nghiệp ở những lĩnh vực gắn trực tiếp với nhu cầu của nền kinh tế như công nghệ, kỹ thuật, y dược, nông nghiệp, logistics, tài chính và chuyển đổi số. Doanh nghiệp tuyển dụng và trả lương; trường đại học bảo đảm chuẩn học thuật; Nhà nước hỗ trợ thông qua quỹ khoa học, đặt hàng nghiên cứu hoặc ưu đãi thuế. Tỷ lệ đóng góp không nhất thiết cứng nhắc 50-50. Điều phải giữ là đề tài giải quyết một vấn đề thật và quyền lợi của người học được quy định rõ ràng.

Thứ ba, các chương trình tài trợ công như Đề án 89 cần được thiết kế lại theo hướng chia sẻ rủi ro. Người học sử dụng ngân sách phải có trách nhiệm nhưng thất bại khoa học không thể mặc nhiên bị coi là vi phạm để buộc bồi hoàn toàn bộ. Chính sách cần phân biệt rõ sự thiếu trung thực, bỏ học không lý do với rủi ro nghiên cứu khách quan, đồng thời giảm sự phụ thuộc máy móc vào số lượng bài báo WoS (Web of Science, trước đây gọi là danh mục ISI, là cơ sở dữ liệu trích dẫn khoa học trực tuyến uy tín hàng đầu thế giới), Scopus (cơ sở dữ liệu thư mục lớn chứa bản tóm tắt và trích dẫn các bài báo khoa học, bao gồm hàng chục nghìn tạp chí uy tín trong nhiều lĩnh vực như khoa học, kỹ thuật, y tế và xã hội) bằng cách thừa nhận sáng chế, bộ dữ liệu, phần mềm, quy trình kỹ thuật và tác động thực tế phù hợp với từng lĩnh vực.

Thứ tư, cần nhìn nhận nhu cầu học tiến sĩ của người đang làm việc một cách thực tế hơn. Không phải mọi giảng viên, bác sĩ, kỹ sư hay nhà quản lý đều có thể rời công việc trong 3 đến 4 năm, nhưng cũng không nên vì thế mà hạ chuẩn của PhD nghiên cứu. Việt Nam có thể nghiên cứu hành lang cho các chương trình tiến sĩ theo định hướng nghề nghiệp, với cấu trúc bán thời gian, đề tài xuất phát từ vấn đề của tổ chức và chuẩn đầu ra riêng. Điều cốt lõi là phân định minh bạch giữa tiến sĩ nghiên cứu và tiến sĩ nghề nghiệp.

Chuẩn hóa đào tạo tiến sĩ là việc cần làm nhưng chuẩn học thuật không thể đứng một mình. Khi nghiên cứu sinh toàn thời gian tham gia trợ giảng, làm việc trong phòng thí nghiệm, thực hiện đề tài và tạo ra sản phẩm trí tuệ, họ không còn chỉ là người học tiếp nhận tri thức mà đã trực tiếp tham gia tạo ra tri thức mới. Có thể chưa cần áp một địa vị lao động duy nhất cho tất cả nhưng chính sách phải thừa nhận giá trị lao động của họ và bảo đảm một nguồn sống có thể dự liệu.

Đã đến lúc, câu hỏi không còn chỉ là nghiên cứu sinh phải đóng bao nhiêu học phí mà là Nhà nước, trường đại học và doanh nghiệp sẽ đầu tư thế nào cho những người đang tạo ra tri thức mới.