Hơn 20 năm gắn bó với các điểm trường vùng cao Nghệ An, vợ chồng thầy Chung, cô Ly từng dựng lều làm nơi ở để bám bản, bám lớp. Cùng họ, nhiều giáo viên chấp nhận những chuyến đi xuyên rừng, vượt lũ để duy trì việc học cho trẻ em vùng biên.
Tại các bản làng biên giới Nghệ An, việc duy trì lớp học là cả một hành trình gian nan. Mặc cho những điểm trường "3 không", những chuyến xe máy vượt lũ, băng rừng hay đường sạt lở, bước chân giáo viên chưa từng dừng lại.
Họ vào rẫy "kéo" trò về lớp, kiên trì hỗ trợ làm giấy khai sinh, sẵn sàng dựng lều tạm làm tổ ấm và gửi lại thanh xuân để thắp sáng ước mơ cho trẻ vùng cao.
Báo VietNamNet giới thiệu tuyến bài: Những người ‘thắp lửa’ vùng biên.
Chung lưng bám lớp, nên duyên giữa chốn non cao
Tháng 9/2003, khi 22 tuổi, cô Lê Thị Ly rời quê ở xã Thành Bình Thọ, lên nhận công tác tại điểm trường Công Thành, Trường Mầm non Tây Sơn (xã Mường Xén, Nghệ An).
Trước ngày đi, Ban Giám hiệu thông tin cho cô về những khó khăn ở vùng cao để chuẩn bị tinh thần. Thế nhưng, những gì hiện ra trước mắt vẫn khiến cô không khỏi bất ngờ.
Giáo viên Trường Mầm non Tây Sơn đến từng gia đình, nắm bắt sĩ số học sinh. Ảnh: T.T
Bản Công Thành khi ấy có những nếp nhà thấp bé, thưa thớt chìm trong sương. Tiết trời chớm thu đã lạnh buốt. Điểm trường chỉ là căn nhà tranh, xung quanh thưng tre, nứa, nơi cô giáo trẻ phụ trách hơn 10 học sinh người Mông.
Đêm đầu tiên ở bản, người dân bố trí cho cô một chỗ ngủ. Trong căn nhà tạm, ngọn nến leo lét, bên ngoài gió rừng rít từng cơn, cô Ly nằm mãi mà không thể chợp mắt.
“Nỗi cô đơn bủa vây, tôi thấy mình lạc lõng giữa bóng đêm đại ngàn. Nước mắt cứ rơi, nhưng tôi tự nhủ phải vững tin, khó khăn rồi sẽ qua”, cô Ly xúc động nhớ lại.
Ngày ấy, bản không điện, không sóng điện thoại, đường sá cách trở nên mỗi năm cô chỉ về quê chừng 4-5 lần. Thậm chí, Ban Giám hiệu muốn liên lạc với giáo viên cắm bản cũng phải viết giấy tay rồi nhờ người dân chuyển giúp.
Vợ chồng cô Ly có thâm niên hơn 20 năm bám bản vùng biên giới Nghệ An. Ảnh: NVCC
Con đường vào bản Công Thành phải đi qua bản Vàng Lữ. Cũng chính ở vùng đất này, cô Ly gặp thầy Phan Hoài Chung, giáo viên đang công tác tại một điểm lẻ của Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học và THCS Tây Sơn.
Năm 1997, thầy Chung bắt đầu hành trình lên miền Tây Nghệ An, công tác tại xã Na Ngoi. Hai năm sau, thầy chuyển về Tây Sơn và gắn bó với vùng đất này cho đến nay. Những ngày đầu, thầy cùng đồng nghiệp ở nhờ nhà dân, chia sẻ từng bữa cơm, cùng học trò vượt qua những mùa đông khắc nghiệt.
Có những đợt rét đậm, học sinh phải nghỉ học. Nhiều lần, phụ huynh gùi củi đến lớp để thầy cô nhóm lửa sưởi ấm, mang thêm thức ăn cho giáo viên.
Công tác ở nơi khó khăn, cùng thấu hiểu những nhọc nhằn của nghề, cô Ly và thầy Chung dần tìm thấy sự đồng cảm. Hai người nên duyên vợ chồng. Năm 2004, cả hai cùng công tác tại bản Lữ Thành, dựng một căn lều nhỏ làm tổ ấm, tiếp tục bám bản, bám lớp.
Những năm tháng ấy, chuyện đi từ bản này sang bản khác có khi mất cả ngày. Đường rừng quanh co, mùa mưa lầy lội, mùa rét buốt giá. Cuộc sống của giáo viên vùng biên khi đó thiếu thốn đủ bề, nhưng lớp học vẫn được duy trì.
Sau hơn 20 năm, cô Ly chia sẻ vùng biên giới đã thay đổi rất nhiều. Đường sá, trường lớp, điện và điều kiện sinh hoạt của giáo viên, học sinh từng bước được cải thiện. Những căn nhà tranh, những đêm thắp nến ngày nào đã dần lùi vào ký ức.
Còn sức khỏe, còn cống hiến
Cùng chung bầu nhiệt huyết với vợ chồng cô Ly là cô Trần Thị Trâm, giáo viên có thâm niên lâu nhất tại Trường Phổ thông Dân tộc bán trú Tiểu học Bắc Lý 2 (xã Bắc Lý).
Tốt nghiệp Trường Cao đẳng Sư phạm Cao Bằng, năm 2003 cô Trâm đến Bắc Lý và lần lượt công tác ở các điểm trường gian khó nhất như Kèo Phà Tú, Xám Thang, Huồi Bắc, Nhọt Kho. Nhà ở xã Đông Hiếu, cách nơi công tác khoảng 250km, mỗi lần về thăm gia đình, cô phải mất 2-3 ngày đường.
“Từ trung tâm Mường Xén (huyện Kỳ Sơn cũ), tôi phải tiếp tục đi thuyền, xe máy, có khi ngủ nhờ nhà quen ở xã Mỹ Lý, sáng hôm sau lại đi bộ băng rừng, gần trưa mới vào tới điểm trường”, cô Trâm kể.
Cô Trâm mong còn sức khỏe để tiếp tục cống hiến cho trẻ em vùng cao. Ảnh: NVCC
Khó khăn còn đến từ bất đồng ngôn ngữ. Học sinh chủ yếu là người Khơ Mú, Thái và Mông, trong khi cô giáo trẻ chưa biết tiếng địa phương. "Mình nói các em không hiểu, các em nói mình cũng chịu. Nhiều tình huống dở khóc dở cười", cô cười nhớ lại.
Một số phụ huynh khi ấy cũng nghi ngại khả năng giảng dạy của cô giáo trẻ. Không nản lòng, cô Trâm chủ động trò chuyện với người dân, học cách giao tiếp. Thậm chí, có thời điểm, cô đưa con trai mới 2,5 tháng tuổi lên điểm trường, vừa nuôi con nhỏ trong khu tập thể vừa cắm bản dạy học.
Năm nay, khi Trường Phổ thông nội trú liên cấp Tiểu học và THCS Bắc Lý hoàn thiện, cô trò chuyển về nơi học mới khang trang hơn. Sau ngần ấy năm bám bản, cô Trâm chưa từng có ý định xin chuyển về vùng xuôi.
“Ở đây lâu rồi, quen học sinh, quen bà con nên tôi chẳng muốn đi đâu. Còn khoảng 4 năm nữa nghỉ hưu, còn sức khỏe, tôi còn tiếp tục cống hiến”, cô tâm sự.
Với cô Trâm, cô Ly và thầy Chung, những năm tháng gian khó không chỉ là ký ức về sự thiếu thốn. Đó là quãng đời đẹp nhất họ dành trọn cho học trò, gửi lại thanh xuân giữa đại ngàn để thắp sáng tương lai cho trẻ em vùng cao.
Vượt cung đường đèo dốc sạt lở vào điểm trường Huồi Hốc (Nghệ An), cô giáo mầm non không chỉ lặn lội lên nương rẫy "kéo" trò về lớp, mà còn kiên nhẫn đợi ngày cha mẹ các em đủ tuổi để hỗ trợ làm giấy khai sinh.
Nước lũ dâng mấp mé trường học, mố cầu độc đạo có nguy cơ sập khiến việc đến các điểm lẻ của giáo viên Trường Mầm non Mỹ Lý 2 (Nghệ An) gặp muôn vàn trắc trở, hiểm nguy.