Hậu ly hôn, vợ cũ đòi chia nhà

Theo trình bày của bà T. (ngụ TP Đà Nẵng), căn nhà 177m2 tại TP Đà Nẵng trước đây thuộc quyền sở hữu chung của anh em ông S. Năm 2012, bà kết hôn với ông S. và cùng sinh sống tại căn nhà này.

Giữa năm 2023, tại phòng công chứng, ông S. ký hợp đồng tặng cho bà T. phần quyền sở hữu của mình đối với căn nhà. Sau đó, hai người tiếp tục lập văn bản cam kết xác định tài sản nêu trên là tài sản riêng của bà T. Cuối năm 2023, bà T. và ông S. ly hôn, bà T. chuyển ra nơi khác sinh sống.

Cho rằng mình có quyền đối với căn nhà sau khi nhận tặng cho hợp pháp, bà T. khởi kiện yêu cầu chia đôi tài sản chung theo phần giữa các đồng sở hữu. Bà đề nghị giao tài sản cho ông B. (anh ruột của ông S.) quản lý và buộc ông này thanh toán lại phần giá trị tương ứng cho bà. Theo kết quả thẩm định, tổng giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất hơn 4 tỷ đồng.

W-Da Nang 2025 (22).jpg
Ảnh minh họa: Hoàng Hà

Về phía bị đơn, ông B. không đồng ý, cho rằng hợp đồng tặng cho giữa em trai và bà T. vô hiệu do ông là đồng sở hữu nhưng không được thông báo.

Theo ông B., việc tặng cho chưa thực hiện thủ tục tách thửa, chưa đủ điều kiện chuyển quyền theo quy định nên đề nghị hủy hợp đồng tặng cho và khôi phục tình trạng sở hữu ban đầu.

Trong khi đó, các tổ chức công chứng liên quan xác định việc công chứng hợp đồng và văn bản cam kết tài sản được thực hiện đúng trình tự; các bên hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự.

Cơ quan đăng ký đất đai cũng cho biết việc đăng ký biến động quyền sử dụng đất theo hợp đồng tặng cho đã được thực hiện đúng quy định pháp luật tại thời điểm đăng ký.

Qua xem xét các chứng cứ, TAND quận Sơn Trà (nay là TAND khu vực 2 - Đà Nẵng) nhận định việc ông S. tặng cho phần quyền sở hữu của mình trong khối tài sản chung theo phần là phù hợp quy định pháp luật dân sự.

Tòa không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông B. về việc hủy hợp đồng tặng cho. Đồng thời, chấp nhận yêu cầu chia tài sản của bà T., giao toàn bộ nhà và đất cho ông B. quản lý, sử dụng và buộc ông này thanh toán cho bà T. một nửa giá trị tài sản theo kết quả định giá.

Người anh phải trả hơn 2 tỷ đồng

Không đồng ý với phán quyết trên, ông B. kháng cáo. Ông cho rằng việc em trai tặng cho phần quyền sở hữu nhà đất cho bà T. khi chưa có sự đồng ý của ông, người đồng đứng tên trên giấy chứng nhận, là không phù hợp quy định pháp luật về giao dịch tài sản chung.

Đồng thời, ông cũng không đồng ý với phán quyết buộc ông phải thanh toán hơn 2 tỷ đồng cho bà T. theo kết quả định giá tài sản.

Xem xét hồ sơ vụ án, Tòa phúc thẩm xác định căn nhà tranh chấp là tài sản sở hữu chung theo phần, trong đó ông S. có quyền định đoạt đối với phần sở hữu của mình. Việc ông S. tặng cho phần quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất cho bà T. không vượt quá phạm vi quyền sở hữu của ông, không làm thay đổi toàn bộ quyền sở hữu chung nên không cần có sự đồng ý của ông B. Hợp đồng tặng cho được ký kết tự nguyện, đúng hình thức và phù hợp quy định pháp luật, vì vậy có hiệu lực pháp lý.

Tòa phúc thẩm cũng nhận định bà T. và ông B. là đồng sở hữu hợp pháp đối với căn nhà, mỗi người có quyền tương ứng với phần sở hữu của mình. Do ông B. đang quản lý, sử dụng toàn bộ nhà đất nên việc buộc ông thanh toán cho bà T. một nửa giá trị tài sản là có căn cứ.

Từ các phân tích trên, TAND TP Đà Nẵng quyết định không chấp nhận kháng cáo của ông B., giữ nguyên bản án sơ thẩm.