Con gái kiện bố mẹ ruột

Theo trình bày của bà D. (ngụ TP Hà Nội), cha mẹ bà là ông K. và bà Đ. (cùng ngụ tỉnh Thái Nguyên) có 6 người con. Năm 1989, gia đình ông K. kê khai đăng ký quyền sử dụng đất với 6 nhân khẩu.

Đến năm 1991, chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ gia đình với tổng diện tích hơn 12.000m2 đất nông nghiệp.

Theo bà D., thời điểm đó chính sách chia ruộng của hợp tác xã tại địa phương quy định mỗi lao động chính được phân khoảng 2 sào 10 thước ruộng (tương đương khoảng 960m2).

Bà D. cho biết mình là một trong những người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp cùng gia đình. Tuy nhiên, sau khi lập gia đình năm 2003 và chuyển hộ khẩu về Hà Nội, bà không được cha mẹ chia lại phần đất theo suất lao động như trước.

Cho rằng mình vẫn có quyền đối với phần ruộng đã được phân theo nhân khẩu trước đây, bà D. khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc cha mẹ giao lại cho bà diện tích tương ứng 960m2 trong các thửa đất tại địa phương.

W-đất đồng nai.JPG.jpg
Ảnh minh họa: Anh Phương

Về phía bị đơn, ông K. xác nhận nguồn gốc đất là do hợp tác xã giao cho gia đình theo nhân khẩu. Tuy nhiên, ông cho rằng khi bà D. đi lấy chồng thì hợp tác xã đã thu hồi suất ruộng của bà để phân cho hộ khác.

Ngoài ra, theo quan điểm của ông K., đất ruộng trong gia đình chủ yếu để lại cho các con trai canh tác, còn con gái sau khi đi lấy chồng sẽ không tiếp tục được chia. Ông cũng cho biết năm 2018 vợ chồng ông đã tặng cho bà D. 500m2 đất rừng nên không đồng ý chia thêm đất ruộng.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Đ. (mẹ của bà D.) qua đời vào tháng 6/2024. Các anh chị em của bà D. đều xác nhận quan hệ gia đình như bà trình bày, song cho rằng việc chia đất thuộc quyền quyết định của cha. Các anh em đề nghị tòa án xem xét vụ việc theo quy định pháp luật về suất đất ruộng trước đây.

Lao động chính nhưng không được chia đất

Tại phiên tòa sơ thẩm, TAND TP Sông Công (nay là TAND khu vực 2 - Thái Nguyên) nhận định bà D. có tham gia lao động và có quyền lợi liên quan đến diện tích đất nông nghiệp đã được cấp cho hộ gia đình trước đây. Tuy nhiên, các yêu cầu của bà chỉ có cơ sở một phần.

Bản án sơ thẩm ngày 4/9/2024 tuyên chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà D. Tòa buộc ông K. phải giao trả cho bà D. diện tích 456m2 đất nông nghiệp. Tòa cũng công nhận quyền quản lý, sử dụng hợp pháp của bà D. đối với diện tích đất nêu trên và yêu cầu ông K. phối hợp thực hiện thủ tục điều chỉnh, sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định.

Đối với phần diện tích 504m2 còn lại mà bà D. yêu cầu bố mẹ trả lại, tòa án không chấp nhận do không đủ căn cứ pháp lý.

Không đồng ý với phán quyết trên, cả bà D. và cha mình đều kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, Hội đồng xét xử TAND tỉnh Thái Nguyên xác định, vào năm 1989, ông K. đại diện hộ gia đình nộp đơn đăng ký quyền sử dụng đất với 6 nhân khẩu, trong đó có 3 lao động chính.

Sau đó, gia đình được hợp tác xã giao khoán 12 thửa đất với tổng diện tích hơn 4.700m2 đất ruộng. Đến năm 1991, chính quyền địa phương cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ ông K. với tổng diện tích 12.532m2 đất nông nghiệp các loại.

Các tài liệu nhân khẩu từ năm 1985 đến 1996 cho thấy bà D. vẫn được kê khai trong hộ gia đình và có nghề nghiệp làm ruộng, do đó tòa nhận định bà thuộc đối tượng được chia đất khoán theo chính sách của hợp tác xã.

TAND tỉnh Thái Nguyên xác định diện tích đất nông nghiệp khoán còn lại của hộ gia đình hiện nay là gần 4.000m2 sau khi bị Nhà nước thu hồi một phần phục vụ mục đích quốc phòng.

Tòa án nhận định việc bà D. từng là lao động chính trong hộ nhưng chưa được chia đất, yêu cầu được hưởng suất đất là có căn cứ. Tuy nhiên, do bà D. đã lập gia đình, ra khỏi hộ khẩu và trước đó được cha mẹ tặng cho 500m2 đất, đồng thời xét đến công sức quản lý, sử dụng đất của vợ chồng ông K. trong hơn 30 năm, vì vậy tòa phúc thẩm quyết định chỉ chia cho bà D. một nửa suất lao động chính, tương đương 456m2 đất ruộng.