Lời tòa soạn: Nhân kỷ niệm 80 năm Ngày truyền thống cơ quan quản lý nhà nước về công tác dân tộc (3/5/1946-3/5/2026), VietNamNet tổ chức tọa đàm trực tuyến với chủ đề “80 năm công tác dân tộc - Hành trình đại đoàn kết và khát vọng vươn lên”. 

Tham gia tọa đàm có ông Hoàng Xuân Lương - nguyên Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc; ông Bế Trung Anh - đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tại Ủy ban Công tác đại biểu của Quốc hội khóa 16; ủy viên thường trực Hội đồng Dân tộc Quốc hội khóa 15; ông Hà Văn Sáng - Phó Vụ trưởng Vụ Dân tộc và Tôn giáo, Ban Tuyên giáo và Dân vận Trung ương.

Mời quý vị theo dõi toàn bộ nội dung cuộc tọa đàm TẠI ĐÂY

Xem phần 1: Khi đồng bào là chủ thể: Bước chuyển lớn của công tác dân tộc trong 80 năm

Xem phần 2: 'Xuống với dân không nói nhiều khẩu hiệu'

Xem phần 3: Tây Nguyên và Tây Bắc: Hai mô hình, một lời giải

XEM VIDEO:

Chuyển đổi số: Không chỉ là hạ tầng mà là năng lực số và niềm tin số

Ông Sáng vừa đề cập đến các Facebooker, cho thấy tác động của kỷ nguyên số và chuyển đổi số. Vậy thưa ông Bế Trung Anh, chuyển đổi số mở ra nhiều cơ hội cho vùng đồng bào dân tộc trong tiếp cận dịch vụ công, giáo dục, y tế, thông tin chính sách… Theo ông, thách thức lớn nhất để chuyển đổi số thực sự đi vào đời sống đồng bào là gì?

Ông Bế Trung Anh: Trước đây, khi chưa có thuật ngữ chuyển đổi số, chúng ta nói nhiều đến internet. Internet từng được xem là cơ hội lớn nhất để không bỏ lại ai phía sau, ít nhất về mặt tiếp cận thông tin. Nếu vùng sâu, vùng xa có Internet, bà con cũng có thể tiếp cận thông tin như chúng ta.

Khi đó có thuật ngữ “hố ngăn cách số”, tức nơi không có sóng, không có điện thì đương nhiên không có internet. Khoảng cách giữa nơi có Internet và không có Internet tạo ra hố ngăn cách số.

Đến nay, internet đã phổ biến hơn, dù vẫn còn nhiều bản làng chưa có hạ tầng thông tin. Nhưng khi thuật ngữ chuyển đổi số xuất hiện, cách hiểu của chúng ta về chuyển đổi số ở nhiều nơi còn rất khác nhau. Chuyển đổi số không phải là câu chuyện ứng dụng, mà là thực hiện chuyển đổi số như thế nào. 

Cán bộ, nhất là ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, hiểu khái niệm chuyển đổi số còn tương đối khó khăn. Bây giờ, chúng ta không chỉ nói hố ngăn cách số mà nói đến “năng lực số”. Cán bộ cần có năng lực số.

Trước hết, họ phải hiểu thế nào là chuyển đổi số. Có phải chỉ là đưa quy trình cũ lên internet để chạy nhanh hơn, hay phải thay đổi cả quy trình làm việc? Chính quyền phục vụ gắn liền với chuyển đổi số ở điểm này. Nhu cầu của người dân là tức thời, không chỉ là kế hoạch theo mệnh lệnh hành chính như trước. Đó là chính phủ thích ứng. Nếu không có chuyển đổi số thì khó có chính phủ thích ứng.

Khi cán bộ hiểu chuyển đổi số, làm tốt chuyển đổi số thì năng lực số của bà con cũng được nâng lên. Nếu bà con có năng lực số phù hợp thì sẽ không bị thông tin thất thiệt làm hiểu sai về chính sách dân tộc và tôn giáo.

Vì vậy, chúng ta không chỉ dừng ở quản lý thông tin mà phải xây dựng “niềm tin số”. Đây là câu chuyện quan trọng, nhất là với vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi bà con theo nhiều tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. Cần có chuẩn để đưa chủ trương, văn bản, chính sách đến kịp thời với bà con, không để thông tin xấu độc làm phân tán, làm loãng sự tập trung của bà con đối với chính sách của Đảng và Nhà nước.

Trong môi trường số, công tác dân tộc và tôn giáo cần đổi mới thế nào để vừa phục vụ người dân tốt hơn, vừa nhận diện, xử lý rủi ro trên không gian mạng, thậm chí là nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh tôn giáo hoặc kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc?

Ông Bế Trung Anh: Hiện nay, chúng ta đang thực hiện theo cách tôi cho là khá cơ học, tức là ngăn chặn thông tin xấu độc trên mạng nhưng một số vấn đề công nghệ không phải muốn ngăn chặn là được. 

Vì vậy, điều quan trọng hơn là chúng ta phải có nhiều thông tin hơn từ phía mình, nhiều bài học thực tiễn hơn, dễ hiểu hơn, ngấm hơn với bà con. Nếu chỉ ngăn chặn thì chưa đủ, tôi cho đó là điều kiện cần. Điều kiện đủ là thông tin của chúng ta phải nhiều hơn, chính xác hơn và kịp thời hơn.

Chúng ta cần nhận thức sòng phẳng, bài bản như vậy. Lợi thế của chúng ta là có chính quyền địa phương ở bên cạnh dân. Nếu cơ sở hạ tầng thông tin cho phép, công nghệ nội dung cho phép làm thông tin phong phú hơn, dễ hiểu hơn, dễ thấm vào đồng bào hơn thì chúng ta hoàn toàn có thể đạt mục tiêu.

XEM VIDEO:

Chính sách phải “cùng đồng bào”, không phải “cho đồng bào”

Trong bối cảnh công tác dân tộc, tôn giáo bước vào giai đoạn mới với yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn, nếu gửi gắm một thông điệp hay một ưu tiên hành động cho 10 năm tới, các ông muốn nhấn mạnh điều gì nhất? Xin mời ông Hoàng Xuân Lương.

Ông Hoàng Xuân Lương: Câu hỏi này khó và mang tính tổng quát cao. Nhưng nó gợi tôi nhớ đến một luận điểm cách đây 60 năm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng. Ông từng nói: Nói đến dân tộc thiểu số là nói đến văn hóa, đừng đi tìm vấn đề dân tộc thiểu số ở chỗ khác.

Càng suy ngẫm, tôi càng thấy rõ hai yếu tố cốt lõi trong văn hóa theo quan điểm của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng: xây dựng đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số và bảo tồn, phát triển bản sắc văn hóa của từng tộc người.

Tôi cho đây là hai yếu tố then chốt trong công tác dân tộc, tôn giáo trong thời gian tới. Trong 10 năm tới, tất nhiên chúng ta phải thực hiện toàn diện chính sách dân tộc, nhưng lõi của nó là nguồn nhân lực, trong đó có đội ngũ cán bộ người dân tộc thiểu số, và phát huy bản sắc văn hóa các tộc người.

Tôi muốn nhấn mạnh rằng bản sắc văn hóa không nên hiểu theo quan điểm cũ. Văn hóa không chỉ là tinh thần. Văn hóa cần được nâng lên theo quan điểm mới: văn hóa là một nền kinh tế của cảm xúc. Chúng ta phải biến bản sắc văn hóa các tộc người thành một nền kinh tế, thành sản phẩm có thể bán, có thu nhập. Đó mới là phát huy văn hóa trở thành động lực.

Ông Hà Văn Sáng: Tôi chỉ có hai từ: “đồng hành” và “kiến tạo”. Trước đây chúng ta có đồng hành không? Có, nhưng nói nhiều đến hỗ trợ, đầu tư trong điều kiện còn khó khăn. Nếu là đồng hành thì cả hệ thống cùng với đồng bào, cùng song hành, cùng chia sẻ để giải quyết vấn đề.

Kiến tạo là Nhà nước kiến tạo khi nào cần, cần cái gì, cần ở đâu cho trúng, cho đúng. Với tôi, hai từ “đồng hành” và “kiến tạo” là đủ. Từ đó mở ra các khía cạnh khác nhau thì tôi tin sẽ đạt thành công trong 10 năm tới.

Ông Bế Trung Anh: Qua cuộc trao đổi, chúng ta thấy phát triển vùng dân tộc thiểu số không phải là bài toán hỗ trợ, mà là bài toán giải phóng tiềm năng.

Nếu như vậy, câu chuyện không chỉ là hỗ trợ hay đầu tư, mà phải trao quyền và tạo không gian để đồng bào phát triển bằng chính nội lực của mình.

Vì vậy, câu chốt của tôi là chính sách của chúng ta phải chuyển từ “chính sách cho đồng bào” sang “chính sách cùng đồng bào”. Bây giờ phải là “chính sách cùng đồng bào”. Như anh Sáng nói, đó là đồng hành. Kiến tạo là việc của Nhà nước, còn người dân được quyền tự chủ hoạt động của mình trên không gian, hệ sinh thái mà Nhà nước tạo lập.

Tây Nguyên và Tây Bắc: Hai mô hình, một lời giải
Từ một xã nghèo ở Tây Nguyên với hơn 70% hộ khó khăn, Ia Blang (Gia Lai) vươn lên mạnh mẽ nhờ chuyển đổi sinh kế. Trong khi đó, xóm Sưng (Hòa Bình) chọn con đường làm du lịch cộng đồng với sự tham gia của cả bản…
'Xuống với dân không nói nhiều khẩu hiệu'
Xuống với dân không nói nhiều khẩu hiệu, mà phải nói bằng tiếng nói của đồng bào. Trong công tác dân tộc, phải chuyển từ truyền đạt một chiều sang đối thoại trực tiếp mới nắm bắt được tâm tư và đề xuất nguyện vọng của dân.