Việc giảm thuế mang lại sự hỗ trợ trực tiếp, giúp doanh nghiệp và hộ kinh doanh tối ưu hóa dòng tiền, giảm bớt chi phí trong ngắn hạn.

Tuy nhiên, nếu nhìn vào thực tế sinh tồn của khu vực kinh tế tư nhân hiện nay, giảm thuế, dù rất quý, dường như mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ, cũng là khao khát lớn nhất của cộng đồng doanh nhân và HKD, chính là một môi trường kinh doanh an toàn, minh bạch, nơi thủ tục hành chính được đơn giản hóa triệt để và, quan trọng nhất, loại bỏ được tâm lý nơm nớp lo sợ bị xử phạt vô lý hay bị “hình sự hóa” các quan hệ kinh tế.

Ho Kinh doanh.jpg
Để ngọn lửa kinh doanh trong dân thực sự bùng cháy, nền kinh tế cần những cải cách thể chế mạnh mẽ hơn. Ảnh: VietNamNet

Đầu tiên, hãy nhìn vào bản chất của các chính sách miễn, giảm thuế. Thuế là nghĩa vụ tài chính của doanh nghiệp, HKD đối với Nhà nước dựa trên kết quả hoạt động kinh doanh. Khi doanh nghiệp làm ăn có lãi hoặc phát sinh doanh thu, việc giảm một vài phần trăm thuế suất giúp họ giữ lại một khoản tích lũy để tái đầu tư hoặc nâng cao năng lực cạnh tranh.

Thế nhưng, giảm thuế chỉ phát huy tác dụng khi doanh nghiệp còn sống và còn hoạt động. Chi phí thuế thực chất không phải là rào cản duy nhất hay lớn nhất đè nặng lên vai doanh nghiệp và HKD. Chi phí tuân thủ pháp luật, thời gian dành cho các thủ tục hành chính và các khoản “chi phí không chính thức” phát sinh trong quá trình xin cấp phép, thanh tra, kiểm tra mới là những “viên đá tảng” ghìm chân sức bứt phá của nền kinh tế.

Sự phiền hà của thủ tục hành chính từ lâu dường như đã trở thành một căn bệnh mãn tính. Một dự án đầu tư hay một cơ sở kinh doanh muốn đi vào hoạt động phải trải qua vô số tầng nấc thẩm định, từ cấp phép đầu tư, quy hoạch, đất đai, môi trường cho đến phòng cháy, chữa cháy. Sự chồng chéo giữa các văn bản quy phạm pháp luật, cùng với thói quen “quản không được thì cấm” hoặc giải thích pháp luật một cách tùy tiện ở cấp cơ sở, khiến doanh nghiệp mất hàng tháng, thậm chí hàng năm trời, chỉ để hoàn thiện hồ sơ.

Trong kinh doanh, thời gian là tiền bạc, là cơ hội thị trường. Một chính sách giảm thuế 2% hay 5% hoàn toàn không thể bù đắp tổn thất khi một dự án bị đình trệ do nghẽn thủ tục.

Riêng đối với khu vực hộ kinh doanh, lực lượng đông đảo nhưng dễ bị tổn thương, các rào cản về thủ tục và quy định kinh doanh phức tạp khiến họ luôn e ngại việc chuyển đổi thành doanh nghiệp. Họ chấp nhận ở lại khu vực kinh tế cá thể không phải vì tiếc tiền thuế, mà vì e ngại hàng loạt nghĩa vụ về sổ sách, kế toán và kiểm tra chuyên ngành phức tạp, vượt quá năng lực quản trị của mình.

Bên cạnh thủ tục rườm rà, gánh nặng từ chế tài xử phạt hành chính và tần suất thanh tra, kiểm tra cũng là một thực tế đáng lo ngại. Doanh nghiệp và HKD luôn phải đối mặt với nguy cơ bị phạt do những sai sót nhỏ mang tính kỹ thuật, thậm chí do sự mập mờ trong cách hiểu quy định của cán bộ thi hành công vụ.

Khi quy định pháp luật thiếu nhất quán, ranh giới giữa đúng và sai trở nên mong manh, trong khi quyền quyết định lại nằm trong tay người kiểm tra. Điều này tạo dư địa cho cơ chế “xin - cho” và hành vi nhũng nhiễu phát triển, đẩy chi phí tuân thủ của doanh nghiệp lên rất cao.

Xử phạt nhằm mục đích giáo dục và đưa hoạt động kinh doanh vào khuôn khổ là cần thiết, nhưng xử phạt theo kiểu tận thu, rình rập sơ hở để ra quyết định phạt nặng lại phản tác dụng, triệt tiêu động lực làm ăn chân chính và đẩy khu vực kinh doanh nhỏ lẻ vào thế đối phó.

Để thực sự tạo ra một bước ngoặt cho nền kinh tế, việc thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng về giảm thuế cần được đặt trong một chiến lược cải cách thể chế toàn diện và triệt để.

Trước hết, Chính phủ nên đẩy mạnh hơn nữa việc đơn giản hóa và cắt giảm thực chất các điều kiện kinh doanh, loại bỏ những thủ tục rườm rà, những tiêu chuẩn không khả thi. Các thủ tục hành chính cần được số hóa, minh bạch hóa để giảm thiểu sự tiếp xúc trực tiếp giữa doanh nghiệp và cán bộ quản lý, qua đó hạn chế cơ chế phát sinh “chi phí ngoài luồng”.

Thứ hai, cần thay đổi tư duy quản lý nhà nước từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” dựa trên quản lý rủi ro, coi doanh nghiệp là đối tượng phục vụ thay vì chỉ là đối tượng quản lý.

Tóm lại, đề xuất giảm thuế của Thủ tướng là một thông điệp đồng hành rất có ý nghĩa đối với cộng đồng kinh doanh. Nhưng để ngọn lửa kinh doanh trong dân thực sự bùng cháy, nền kinh tế cần những cải cách thể chế mạnh mẽ hơn.

Giảm bớt một giấy phép con, loại bỏ một quy định xử phạt bất hợp lý và, quan trọng nhất, bảo vệ quyền tự do kinh doanh, quyền tài sản cũng như sự an toàn của doanh nhân trước nguy cơ hình sự hóa các quan hệ kinh tế có thể tạo ra động lực phát triển lớn hơn nhiều so với những con số miễn, giảm thuế đơn thuần.

Chỉ khi doanh nghiệp cảm nhận được sự an toàn và tin tưởng vào hệ thống pháp luật, họ mới yên tâm bỏ vốn, mở rộng đầu tư và đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng của đất nước.

Bùi Trinh 

Đường đến tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới
Việt Nam đặt mục tiêu GDP tăng bình quân từ 10% trở lên giai đoạn 2026-2030. Mục tiêu này đòi hỏi không chỉ nhiều vốn mà quan trọng hơn là sử dụng vốn và lao động hiệu quả. Bài toán là tăng trưởng bằng cách nào.