
|
LTS: Tám mươi mốt năm sau ngày Độc lập 2/9/1945, Việt Nam đã đi một chặng đường dài từ một đất nước nghèo trở thành nền kinh tế hơn 500 tỷ USD và bước vào nhóm nước thu nhập trung bình cao. Câu hỏi đặt ra với chặng đường phía trước: Làm thế nào để một đất nước đã thoát nghèo trở thành một nước giàu mạnh? Nhân dịp Quốc khánh 2/9, Tuần Việt Nam giới thiệu tuyến bài nhìn vào những nguồn lực Việt Nam đang có và những thay đổi cần thiết để tiến tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045. Xem lại bài 1: Tầm nhìn Việt Nam trong giai đoạn mới Xem lại bài 2: Từ khát vọng 2045 đến một kiến trúc phát triển mới Xem lại bài 3: Cuộc tăng tốc 10% và bài toán sức bật mới của Việt Nam |
Tăng trưởng đang đến từ đâu?
Để đi từ mức tăng trưởng bình quân 6,2% lên trên 10%, trước hết hãy xem tăng trưởng của Việt Nam lâu nay đến từ đâu.
Có ba yếu tố chính: vốn, lao động và năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP). Tăng trưởng, nói đơn giản, đến từ thêm vốn, thêm lao động hoặc làm cho vốn và lao động hiện có sinh ra nhiều của cải hơn.
Thứ nhất là TFP. Theo Cục Thống kê, TFP đóng góp khoảng 47% vào tăng trưởng trong giai đoạn 2021-2025. Mục tiêu cho giai đoạn 2026-2030 là trên 55%.
Hiểu đơn giản, TFP tăng khi cùng số vốn và lao động nhưng làm ra được nhiều hơn. Từ mức đóng góp khoảng 47% lên trên 55% có nghĩa năng suất sẽ phải gánh phần lớn hơn của tăng trưởng trong 5 năm tới.
Thứ hai là vốn. Giai đoạn 2021-2025, vốn đầu tư toàn xã hội tương đương khoảng 33% GDP; 5 năm tới dự kiến lên khoảng 40% GDP, theo Bộ Tài chính.

Năm năm tới vẫn cần một lượng vốn đầu tư rất lớn. Nhưng khi đầu tư lên tới khoảng 40% GDP, hiệu quả của đồng vốn càng đáng quan tâm. Theo Bộ Tài chính, ICOR (chỉ số phản ánh hiệu quả của đồng vốn đầu tư để tạo ra tăng trưởng) bình quân giai đoạn 2021-2024 khoảng 6,89. Nếu đồng vốn không được sử dụng hiệu quả hơn, muốn có thêm tăng trưởng sẽ phải bỏ vào ngày càng nhiều tiền.
Phải có thêm vốn, nhưng mỗi đồng bỏ ra cũng phải tạo được nhiều giá trị hơn.
Thứ ba là lao động. Năng suất lao động giai đoạn 2021-2025 tăng bình quân khoảng 5,2% mỗi năm; mục tiêu cho 5 năm tới lên khoảng 8,5% mỗi năm.
Năm 2025, tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ khoảng 29,2%; đến năm 2030, mục tiêu là 35-40%.
Lao động dồi dào, chi phí thấp từng là một lợi thế lớn của Việt Nam. Nhưng với mục tiêu tăng trưởng trên 10%, lợi thế sắp tới không thể chỉ là lao động rẻ, mà phải là người Việt Nam làm được những việc có giá trị cao hơn.
Thay đổi cách tăng trưởng
Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam nhìn nhận tăng trưởng lâu nay vẫn dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động chi phí thấp, trong khi năng suất, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa tương xứng.
Cách tăng trưởng ấy đã góp phần đưa Việt Nam từ một nước nghèo trở thành nước có thu nhập trung bình cao. Nhưng dư địa để tiếp tục đi nhanh bằng cách bỏ thêm vốn, khai thác thêm tài nguyên và dựa vào nhân công rẻ đang hẹp dần.
Việt Nam vẫn cần thêm vốn, máy móc và lao động. Cái phải thay đổi là hiệu quả của đồng vốn và năng suất của người lao động.
Mua máy móc hiện đại hay ứng dụng AI chưa có nghĩa năng suất sẽ tự nhiên tăng. Quan trọng là doanh nghiệp dùng công nghệ ấy để giảm được bao nhiêu chi phí, có tự thiết kế được sản phẩm, làm chủ được công nghệ và tiến lên những khâu có giá trị cao hơn hay không.
Một doanh nghiệp Việt Nam chỉ gia công theo thiết kế và đơn đặt hàng của người khác sẽ giữ lại phần giá trị khác với một doanh nghiệp tự thiết kế, làm chủ công nghệ, xây dựng thương hiệu và tự bán sản phẩm của mình.
Năm năm tới, Việt Nam không chỉ phải làm ra nhiều hơn, mà phải giữ lại được nhiều giá trị hơn từ những gì mình làm ra.
Đổi mô hình bằng cách nào?
Việt Nam đã lựa chọn kinh tế thị trường và được nhiều quốc gia công nhận là nền kinh tế thị trường. Nhưng mức độ thị trường hóa lại rất khác nhau giữa các lĩnh vực.
Thị trường hàng hóa là nơi cơ chế thị trường đã đi khá xa. Hàng hóa dồi dào, người mua có nhiều lựa chọn, doanh nghiệp phải cạnh tranh và giá cả phần lớn phản ánh cung cầu.
Nhưng ở những thị trường quyết định vốn, đất đai, công nghệ và lao động đi đâu, cơ chế thị trường chưa đi xa được như vậy.
Muốn tăng trưởng hai con số trong 5 năm tới, cải cách phải đi sâu vào chính những thị trường này.
Thứ nhất là thị trường vốn. Giai đoạn 2026-2030, vốn đầu tư toàn xã hội dự kiến lên khoảng 40% GDP, so với khoảng 33% trong 5 năm trước. Nhu cầu vốn rất lớn, trong khi nền kinh tế vẫn dựa nhiều vào tín dụng ngân hàng.
Vì vậy, thị trường chứng khoán, trái phiếu phải chia sẻ tốt hơn vai trò cung cấp vốn dài hạn. Điều quan trọng với thị trường chứng khoán không chỉ là vốn hóa lớn đến đâu, mà là huy động được bao nhiêu vốn dài hạn cho nền kinh tế, thay vì hút tín dụng ngắn hạn vào đầu cơ, lướt sóng.
Cải cách thị trường vốn vì thế phải mở thêm đường gọi vốn cho doanh nghiệp và để đồng vốn tìm đến những nơi sử dụng hiệu quả hơn.
Thứ hai là thị trường đất đai. Quy hoạch, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất và giá đất hiện vẫn chịu ảnh hưởng rất lớn của các quyết định hành chính. Vì thế, đất không phải lúc nào cũng dễ dàng chuyển từ nơi sử dụng kém hiệu quả sang nơi tạo ra nhiều giá trị hơn.
Cải cách phải làm cho quyền sử dụng đất được chuyển dịch thuận lợi hơn, giá đất phản ánh tốt hơn giá trị kinh tế và doanh nghiệp có dự án tốt có cơ hội tiếp cận đất bình đẳng hơn. Đất là nguồn lực hữu hạn; để tăng trưởng nhanh hơn, phần đất đang có phải được phân bổ và sử dụng tốt hơn.
Thứ ba là thị trường khoa học - công nghệ. Công nghệ nằm trong viện, trường hay đề tài nghiên cứu chưa tạo ra tăng trưởng. Nó phải có người mua, người bán, được chuyển giao và đi vào doanh nghiệp. Điều đáng quan tâm là có bao nhiêu doanh nghiệp thực sự dùng được công nghệ để làm ăn tốt hơn.
Thứ tư là thị trường lao động. Nếu muốn bớt dựa vào nhân công rẻ, người có kỹ năng phải tìm được nơi cần họ và được trả công xứng đáng. Tăng số người có bằng, chứng chỉ chưa đủ; Việt Nam cần những người làm được những công việc có giá trị cao hơn.
Muốn có những người như vậy, phải bắt đầu từ giáo dục. Nếu muốn có sự sáng tạo, chúng ta cần tôn trọng sự khác biệt, được thử nghiệm cái mới. Bởi vì, sáng tạo luôn có thử và sai; nếu chỉ chọn những việc chắc chắn không sai, rất khó có cái mới.
Đó cũng là một nội dung cốt lõi của Nghị quyết 19 về đổi mới mô hình phát triển. Nhà nước vẫn phải làm luật, bảo đảm cạnh tranh, đầu tư hạ tầng, giáo dục và dịch vụ công. Nhưng những gì thị trường có thể phân bổ tốt thì nên để giá cả, cung cầu, cạnh tranh và hiệu quả quyết định nhiều hơn.
Tăng trưởng hai con số trong một năm đã khó. Muốn giữ tốc độ ấy trong 5 năm, vốn phải tìm được nơi làm ăn hiệu quả, đất phải được sử dụng tốt hơn, công nghệ phải vào được doanh nghiệp và người có năng lực cần được phát huy.
Bài 5: 81 năm sau ngày Độc lập: Con đường tới một nước giàu mạnh




