Từ cuối tháng 4/2021 đến nay, làn sóng dịch Covid-19 lần thứ tư đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh nghiệp, đời sống của nhân dân, chuỗi cung ứng sản xuất và phân phối hàng Việt Nam.
Việc đứt gãy chuỗi cung ứng đã dẫn đến tình trạng số lượng cửa hàng bán lẻ giảm nhiều so với trước thời điểm bùng phát dịch COVID-19 và nhiều cửa hàng vẫn còn đóng cửa trong điều kiện “bình thường mới”. Một số doanh nghiệp thuộc nhóm mặt hàng bán chạy thì lại chịu ảnh hưởng bởi sự biến động về nhân công, giá cả đầu vào phục vụ sản xuất kinh doanh... nên hoạt động cầm chừng.
Mức độ phân phối sản phẩm của doanh nghiệp và tần suất mua của người tiêu dùng đều giảm với mua có kế hoạch như giỏ hàng của người tiêu dùng nhiều khi có tăng về khối lượng nhưng ít về số lượng món mua. Người tiêu dùng chủ yếu tập trung vào những sản phẩm đáp ứng nhu cầu thiết yếu và cũng chỉ thường lựa chọn sản phẩm của những doanh nghiệp, thương hiệu uy tín nhất định.

Bên cạnh hệ thống kênh phân phối hiện đại, kênh phân phối truyền thống vẫn giữ sức hút đối với người tiêu dùng, nhưng một số điểm bán như chợ, tiệm tạp hóa... không còn giữ vai trò chủ đạo có tính chất thống lĩnh thị trường như trước đây. Người tiêu dùng ưu chuộng mua sắm đa kênh và đây vẫn đang là xu hướng nổi trội hiện nay. Mặt khác, sự phát triển như vũ bão của kênh thương mại điện tử cũng đang mở ra nhiều cơ hội vàng cho cả người bán lẫn người mua. Mua sắm online (trực tuyến) đã thay đổi tâm lý, cũng như thói quen mua sắm của người tiêu dùng. Đồng thời, mua sắm trực tuyến và ngoại tuyến gần như không còn ranh giới, nhất là đối với nhóm người tiêu dùng trẻ.
Tuy nhiên, đây cũng là khoảng thời gian chứng kiến sức sống bền vững của hàng Việt và vai trò vô cùng quan trọng của thị trường trong nước đối với nền kinh tế.
Thời gian qua, mối liên kết giữa doanh nghiệp với doanh nghiệp cũng được đẩy mạnh thông qua tăng cường sử dụng sản phẩm của nhau, tham gia vào chuỗi cung ứng hàng hóa. Mặt khác, mối liên kết giữa doanh nghiệp với các hợp tác xã cũng được duy trì, từ đó hỗ trợ người sản xuất và lưu thông, phân phối hàng hóa, đặc biệt là nông sản.
Xác định giữ vững chuỗi liên kết hàng Việt là giải pháp quan trọng trong bối cảnh khó khăn do giãn cách, thời gian qua, Bộ Công Thương đã triển khai hàng loạt các biện pháp bảo đảm nguồn cung, hỗ trợ lưu thông, phân phối hàng hóa để đáp ứng nhu cầu cơ bản của người dân, doanh nghiệp và hợp tác xã. Cùng với đó, mối liên kết được duy trì ổn định giữa các bộ, ngành với người dân, doanh nghiệp; giữa địa phương với địa phương; giữa doanh nghiệp sản xuất, phân phối và vận tải…
Hướng tới phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 128/NQ-CP, trong đó nhấn mạnh đến khôi phục, phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an sinh; chuyển hướng chiến lược phòng, chống dịch sang “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch Covid-19”.
Với tinh thần đồng hành cùng các địa phương, doanh nghiệp vượt khó, Bộ Công Thương đã ban hành Chỉ thị số 12/CT-BCT về thực hiện các giải pháp cân đối cung cầu, bình ổn thị trường cuối năm 2021 và dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022; đồng thời tiếp tục phối hợp với các bộ, ngành, địa phương hỗ trợ các doanh nghiệp, đặc biệt về các điểm nghẽn cản trở hoạt động sản xuất hiện nay.
Để duy trì chuỗi sản xuất hàng Việt Nam bền vững, thích ứng linh hoạt trong tình hình mới theo tinh thần của Nghị quyết số 128/NQ-CP, các doanh nghiệp cần chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất trong tình huống dịch có thể kéo dài; có kiến nghị kịp thời về những bất cập phát sinh để tránh xảy ra tình trạng cát cứ, ách tắc lưu thông hàng hóa như vừa qua. Cùng với đó, các cơ quan quản lý nhà nước và chính quyền địa phương cũng cần thống nhất khi triển khai các chỉ đạo của Chính phủ, tránh tình trạng mỗi địa phương làm một kiểu, để bảo đảm đủ nguyên liệu cho sản xuất.
Bên cạnh việc kết nối cung cầu, thời gian tới, doanh nghiệp cần chú trọng đến chất lượng hàng hóa để cạnh tranh với các sản phẩm nhập ngoại khi dịch bệnh được kiểm soát; đồng thời, đẩy mạnh hơn nữa việc số hóa ngành thương mại trong nước bằng cách kết hợp được cả thương mại điện tử, công nghệ số để giúp tiết kiệm được hơn nữa chi phí logistics, giảm giá thành để người dân Việt Nam sẽ được tiếp cận những hàng hóa tốt, có giá thành hợp lý.
Thu Hằng