Hướng tới “kỷ nguyên đại dương”, cùng những thách thức mới từ biến đổi khí hậu, an ninh phi truyền thống, xung đột tranh chấp chủ quyền và yêu cầu mới về đột phá trong xây dựng thể chế, chính sách và phát triển bền vững, bên cạnh những thành tựu nền tảng đạt được, pháp luật tài nguyên, môi trường biển và hải đảo thực tiễn bộc lộ những “nút thắt” thể chế cẩn thay đổi, đổi mới cho phù hợp thực tiễn.
Qua gần một thập kỷ thực thi Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (2015), hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên biển từng bước đi vào nền nếp, gắn chặt hơn với bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái biển, vùng bờ. Tuy nhiên, bối cảnh phát triển mới đang đặt ra yêu cầu cấp bách phải hoàn thiện khung thể chế.

Sự bùng nổ của khoa học công nghệ, Cách mạng công nghiệp lần thứ tư cùng xu thế tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn, kinh tế số đã làm thay đổi sâu sắc cách tiếp cận phát triển biển. Cùng với đó, các thách thức an ninh phi truyền thống ngày càng gay gắt như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xói lở bờ biển, ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, rác thải nhựa đại dương và suy giảm đa dạng sinh học biển, kể cả ở vùng biển ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia.
Trong khi đó, nhu cầu sử dụng không gian và tài nguyên biển cho các ngành kinh tế mới như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghiệp, cảng biển và logistics gia tăng nhanh chóng. Nếu thiếu cơ chế pháp lý điều phối hiệu quả, nguy cơ xung đột lợi ích trong sử dụng không gian biển sẽ ngày càng rõ nét, ảnh hưởng trực tiếp đến mục tiêu phát triển bền vững.
Trước yêu cầu mới, năm 2025, Cục Biển và Hải đảo Việt Nam đã chủ động rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực quản lý, tham mưu sửa đổi, bổ sung một số quy định quan trọng. Các điều chỉnh bước đầu góp phần bảo đảm vận hành thông suốt mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với trách nhiệm giải trình và tháo gỡ một số vướng mắc trong thực tiễn. Tuy nhiên, do phạm vi sửa đổi còn hẹp, mang tính tình thế, nhiều quy định chưa đáp ứng yêu cầu quản lý.
Việc hoàn thiện pháp luật về quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo cần được thực hiện theo hướng kiến tạo phát triển, bảo đảm tính ổn định, dự báo và đi trước thực tiễn; hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và lợi ích lâu dài của quốc gia.
Trọng tâm là tiếp cận quản lý tổng hợp dựa trên hệ sinh thái và cơ sở khoa học; tăng cường phối hợp liên ngành, liên vùng; đặt bảo vệ, phục hồi hệ sinh thái biển, vùng bờ và hải đảo ở vị trí trung tâm của chiến lược phát triển bền vững. Pháp luật cần minh bạch, dễ tiếp cận, đồng thời nâng cao trách nhiệm giải trình của cơ quan quản lý.
Cùng với đó, đẩy mạnh hiện đại hóa quản lý biển, ứng dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi số, từng bước hình thành cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ; chủ động hội nhập quốc tế, bảo đảm tương thích với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Đặc biệt, tạo chuyển biến rõ nét trong tổ chức thi hành pháp luật, đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát, bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh.
Với tinh thần đổi mới, quyết tâm cao và sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, việc sửa đổi, bổ sung toàn diện Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo sẽ góp phần quan trọng kiến tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thông thoáng, hiện đại, tạo động lực mạnh mẽ để phát triển bền vững kinh tế biển, đưa Việt Nam thực sự trở thành quốc gia mạnh từ biển, giàu từ biển trong kỷ nguyên mới - kỷ nguyên đại dương.