Sửa Luật Thương mại này cần kế thừa căn cứ pháp lý đã có và ghi nhận rõ hoạt động phân phối phiếu trong lĩnh vực xúc tiến thương mại.

“Khi doanh nghiệp đủ điều kiện mang voucher đến thì được giảm chi phí”, Bộ trưởng Tài chính cho biết khi giải thích điểm mới trong dự thảo Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Theo đó, voucher là chứng chỉ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa giảm một số chi phí khi thực hiện dịch vụ, có ghi rõ thời gian và không được chuyển nhượng. 

Tôi chú ý đến cách tiếp cận được nêu trong đề xuất này: từ “Nhà nước hỗ trợ những gì mình có” sang “hỗ trợ những việc mà doanh nghiệp cần”. Thay vì hỗ trợ một dịch vụ định sẵn, doanh nghiệp có thể sử dụng voucher cho những dịch vụ phù hợp với nhu cầu của mình.

Quoc hoi.jpg
Hội trường Diên Hồng chiều ngày 20/10. Ảnh: Quochoi.vn

Đại biểu Lê Thanh Hoàn (đoàn đại biểu Quốc hội Thanh Hóa) đặt câu hỏi: "Voucher có phải là giấy tờ có giá được phát hành chung hay sẽ được phát hành riêng cho từng doanh nghiệp dưới dạng văn bản đề nghị?".

Câu hỏi ấy cần được trả lời để chính sách vận hành bởi nhu cầu là có thật, cả ở phía nhà nước lẫn thị trường.

Ở phía nhà nước, Sở Du lịch Đà Nẵng phát hành tới hơn 30.000 phiếu mua hàng ưu đãi nhằm kích cầu trong mùa du lịch năm 2025. 

Dự thảo Luật Phát triển Công nghiệp văn hoá cũng đề xuất dùng “thẻ văn hóa quốc gia” để thúc đẩy tiêu dùng một số sản phẩm, dịch vụ công nghiệp văn hóa nhất định.

Ở nước ngoài, các chính phủ Singapore triển khai phiếu “SingapoRediscovers” và Nhật Bản triển khai phiếu “Go To Travel” để kích cầu ngành dịch vụ bản địa.

Còn trên thị trường, phiếu mua hàng đã được sử dụng phổ biến, với những doanh nghiệp chuyên phân phối, kết nối ba bên người mua phiếu, các thương hiệu và người dùng phiếu. 

Dịch vụ này cũng đang cần được làm rõ trong lần sửa Luật Thương mại lần này.

Thị trường đã đi trước

Voucher là lựa chọn phổ biến của doanh nghiệp để làm quà tặng, khen thưởng nhân viên, tri ân đối tác, chăm sóc khách hàng. Tính linh hoạt và tiện lợi của phiếu mua hàng chính là yếu tố cốt lõi tạo nên sức hút của mô hình này, khi cho phép người tiêu dùng tự do lựa chọn sản phẩm theo nhu cầu cá nhân, sử dụng được ở các kênh giao dịch khác nhau.

Thị trường phiếu mua hàng tại Việt Nam hiện nay ước đạt 2,2–2,7 tỷ USD, tương đương 0,79%–0,95% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng. Một số doanh nghiệp đã và đang cung cấp dịch vụ phân phối voucher khuyến mại trên nền tảng thương mại điện tử và đã phát triển hệ sinh thái gồm hàng nghìn thương hiệu và hàng chục nghìn điểm chấp nhận trên toàn quốc.

Với hoạt động phân phối voucher, đề xuất không bắt đầu từ con số không. Điều 39 Nghị định 52/2013/NĐ-CP đã ghi nhận “bán phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được mua hàng” là một hình thức dịch vụ khuyến mại trực tuyến. Nhiều doanh nghiệp đã đăng ký hoạt động theo khuôn khổ này. Đáng tiếc là Luật Thương mại điện tử số 122/2025/QH15 và Nghị định 248/2026/NĐ-CP không còn khái niệm website khuyến mại trực tuyến như trước. 

Điều cần làm rõ là hoạt động đã được ghi nhận ấy sẽ được tiếp tục quản lý thế nào, để những doanh nghiệp đã đầu tư hệ thống biết cách vận hành và tuân thủ.

Ghi nhận chức năng xúc tiến thương mại

AmCham kiến nghị bổ sung quy định về hoạt động phân phối phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ theo hướng ghi nhận đây là hoạt động xúc tiến thương mại và kinh doanh dịch vụ khuyến mại.

Bộ Công Thương cho rằng cần xác định đây là hoạt động xúc tiến thương mại hay công cụ, phương thức thanh toán. Bộ nêu: “Một doanh nghiệp trung gian đứng ra bán phiếu hàng hóa, phiếu sử dụng dịch vụ của thương nhân phát hành phiếu có thể chỉ là hoạt động của đại lý thương mại để nhận hoa hồng chứ chưa hẳn doanh nghiệp trung gian này kinh doanh dịch vụ khuyến mại".

Ngoài ra, khi cho ý kiến về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thương mại, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã nêu “phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ mang bản chất kinh tế của công cụ kích cầu tiêu dùng, giúp điều hướng và cải thiện sức mua vào các ngành hàng cụ thể và góp phần số hóa hiệu quả xúc tiến thương mại”.

Trong báo cáo giải trình với Ủy ban Thường vụ Quốc hội ngày 18/9/2026, Chính phủ tiếp tục xác định hoạt động phân phối phiếu mua hàng đang thực hiện dưới dạng trung gian thương mại, theo khoản 11 Điều 3 và Chương V Luật Thương mại 2005. Thương nhân nhận tiền, cung cấp phiếu cho khách, thanh toán cho nhà cung cấp và hưởng thù lao theo hợp đồng.

Giải trình ấy làm rõ quan hệ giữa doanh nghiệp phân phối và nhà cung cấp. Nhưng chức năng tìm khách, tổ chức mạng lưới và thúc đẩy tiêu thụ vẫn cần được xem xét. 

Luật Thương mại năm 2005 đã đưa cụm từ "phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ" vào khoản 4 Điều 92 và Điều 97, nhưng chỉ với tư cách một hình thức khuyến mại, là phiếu đi kèm khi bán hàng, cung ứng dịch vụ. Đại biểu Nguyễn Hải Long (đoàn đại biểu Quốc hội TP. Đà Nẵng) cho rằng: “Sau hơn 20 năm, thực tiễn đã khác nhiều. Doanh nghiệp, ngân hàng… mua phiếu từ bên phân phối để tặng khách hàng, khen thưởng người lao động, tri ân đối tác. Một phiếu có thể dùng tại nhiều điểm bán của nhiều thương nhân, người nhận tự chọn hàng hóa, dịch vụ mình cần".

Nghị định 239/2026/NĐ-CP cho phép phiếu mua hàng dùng để mua hàng hóa, dịch vụ của thương nhân, tổ chức khác, đồng thời yêu cầu bên phát hành tuân thủ pháp luật về phòng, chống rửa tiền. Ông Long nói thêm: “Nghị định này vẫn chỉ điều chỉnh phiếu đi kèm hàng hóa, dịch vụ trong hoạt động khuyến mại. Việc dùng phiếu làm giải thưởng trong chương trình khuyến mại mang tính may rủi cũng chưa có quy định cụ thể, nên doanh nghiệp gặp vướng mắc khi đăng ký, báo cáo và khi xử lý giá trị giải thưởng không có người trúng thưởng".

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy Philippines có luật riêng về voucher; EU phân loại phiếu đơn và đa mục đích trong khung thuế VAT; Australia, New Zealand, Canada và Ireland có quy định về voucher nhằm bảo vệ người tiêu dùng. 

Quy định cụ thể cần làm rõ trách nhiệm của bên phân phối và thương hiệu chấp nhận phiếu, để khách đã trả tiền biết phải tìm ai khi phiếu không được sử dụng.

Vì thế, Amcham kiến nghị cần bổ sung hoạt động phân phối phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ vào Luật sửa đổi Luật Thương mại, ghi nhận đây là hoạt động thuộc lĩnh vực xúc tiến thương mại. Cụ thể, bổ sung vào khoản 10 Điều 3 và sửa Điều 89 theo đề xuất về phân phối phiếu để khách mua hàng, sử dụng dịch vụ của đối tác với giá ưu đãi hoặc hưởng lợi ích khác trên cơ sở hợp đồng.

Đó là cách kế thừa căn cứ pháp lý đã tồn tại trong Nghị định 52, đồng thời xây dựng quy định đầy đủ hơn cho hoạt động phân phối.

Trở lại câu nói của Bộ trưởng Tài chính: “Khi doanh nghiệp đủ điều kiện mang voucher đến thì được giảm chi phí”. 

Muốn tấm phiếu thực hiện được lời hẹn ấy, chính sách phải rõ cách vận hành. Với thị trường voucher thương mại, doanh nghiệp và người sử dụng cũng cần sự rõ ràng như vậy.