
Ngày 11/8, Chính phủ thông qua hồ sơ dự án Luật Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để trình Quốc hội xem xét tại kỳ họp thứ hai, Quốc hội khóa XVI, thay cho dự án Luật Hỗ trợ DNNVV sửa đổi.
Theo Nghị quyết 68, khu vực kinh tế tư nhân hiện có khoảng 1 triệu doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách và sử dụng khoảng 82% lực lượng lao động. Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 2 triệu doanh nghiệp hoạt động, đồng thời hình thành những doanh nghiệp tư nhân lớn đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Tăng từ khoảng 1 triệu lên 2 triệu doanh nghiệp trong vòng năm năm đã là một mục tiêu lớn. Cùng với đó là bài toán làm sao để những doanh nghiệp đang hoạt động có thể tích lũy vốn, mở rộng sản xuất và lớn lên. Hai chữ “phát triển” trong tên luật mới, vì thế, cần được nhìn từ chính khả năng lớn lên ấy.
Tám năm “hỗ trợ”
Nhìn lại tám năm thực hiện Luật Hỗ trợ DNNVV năm 2017, không thể nói khu vực này thiếu chính sách. Theo Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, trong gần một thập kỷ qua đã có 8 nghị định, khoảng 20 thông tư cùng nhiều chính sách về tín dụng, thuế, đất đai, đào tạo, tư vấn và đổi mới sáng tạo.
Thế nhưng, chỉ khoảng 35-45% doanh nghiệp biết đến các chính sách hỗ trợ và dưới 15% thực sự thụ hưởng, nếu không tính thuế và đào tạo.
Khoảng cách giữa chính sách và thực tế thể hiện khá rõ ở hai nguồn lực có ý nghĩa sống còn đối với một doanh nghiệp muốn mở rộng quy mô: vốn và đất đai.
98% doanh nghiệp và 20% tín dụng
Theo Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam, đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng dành cho DNNVV đạt khoảng 3,65 triệu tỷ đồng, tăng 223% so với năm 2017, nhưng mới chiếm khoảng 20% tổng dư nợ tín dụng của nền kinh tế.
Tỷ lệ này đáng chú ý khi DNNVV chiếm khoảng 98% số doanh nghiệp đang hoạt động. Tất nhiên, 98% số doanh nghiệp không có nghĩa khu vực này phải nhận tỷ lệ tín dụng tương ứng, bởi quy mô, nhu cầu vốn và khả năng hấp thụ vốn của mỗi doanh nghiệp rất khác nhau.

Theo VCCI, 93,5% khoản vay yêu cầu tài sản bảo đảm, trong khi 75,5% doanh nghiệp cho biết họ không thể vay nếu không có tài sản bảo đảm. Doanh nghiệp nhỏ vì thế thường rơi vào một vòng luẩn quẩn: cần vốn để tích lũy tài sản, nhưng muốn vay vốn trước hết lại phải có tài sản.
Trong khi đó, những công cụ được lập ra để khắc phục khoảng trống này cũng chưa tạo được tác động đáng kể.
Lũy kế đến hết năm 2025, Quỹ Phát triển DNNVV mới chấp thuận cho vay khoảng 1.554 tỷ đồng, trong đó khoảng 1.194 tỷ đồng được giải ngân theo tiến độ; dư nợ của các quỹ bảo lãnh tín dụng địa phương đến tháng 8/2024 chỉ 99,6 tỷ đồng, theo nghiên cứu của TS Hà Huy Ngọc, Giám đốc Trung tâm Chiến lược và Chính sách, Viện Kinh tế Việt Nam và Thế giới.
Một trong những nguyên nhân là yêu cầu “bảo toàn vốn” khiến các quỹ ngần ngại cấp bảo lãnh. Quỹ được lập để chia sẻ rủi ro cho những doanh nghiệp khó vay, nhưng bản thân quỹ lại không có nhiều dư địa để chấp nhận rủi ro.
Doanh nghiệp vẫn khó tiếp cận đất đai
Tình trạng tương tự cũng diễn ra với đất đai. Chính sách hiện hành đã yêu cầu dành ít nhất 5 ha hoặc 3% diện tích đất khu công nghiệp cho các đối tượng trong đó có DNNVV thuê làm mặt bằng sản xuất.
Thế nhưng, khảo sát PCI của VCCI cho thấy tỷ lệ doanh nghiệp không gặp trở ngại trong tiếp cận đất đai hoặc mở rộng mặt bằng kinh doanh đã giảm từ 55% năm 2021 xuống chỉ còn 33% năm 2024.
Như vậy, có chính sách dành đất chưa đồng nghĩa với việc doanh nghiệp dễ dàng tìm được mặt bằng để sản xuất, kinh doanh.
Với DNNVV, đất và vốn còn khóa vào nhau: không có mặt bằng, nhà xưởng và tài sản đủ điều kiện bảo đảm thì khó vay vốn; không vay được vốn lại thiếu nguồn lực đầu tư vào mặt bằng và nhà xưởng.
Từ hỗ trợ sang phát triển
Đổi từ Luật Hỗ trợ sang Luật Phát triển DNNVV cũng đặt ra một cách nhìn khác về kết quả chính sách: không chỉ có bao nhiêu chương trình, khóa đào tạo hay doanh nghiệp được hỗ trợ, mà quan trọng hơn là doanh nghiệp có lớn lên hay không.
Sau một thời gian thực hiện luật, có bao nhiêu doanh nghiệp siêu nhỏ trở thành nhỏ, bao nhiêu doanh nghiệp nhỏ thành vừa; khả năng tiếp cận vốn và mặt bằng được cải thiện ra sao?
Nghị quyết 68 đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 2 triệu doanh nghiệp, trong khi hiện nay Việt Nam có khoảng 1 triệu. Theo TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam, Việt Nam hiện có khoảng 100 người mới có một doanh nghiệp, trong khi tỷ lệ này ở Singapore là khoảng 10 người/doanh nghiệp và ở Hàn Quốc là 6,6 người/doanh nghiệp.
Khoảng cách này cho thấy dư địa gia tăng số lượng doanh nghiệp của Việt Nam còn lớn. Nhưng mục tiêu không chỉ là có thêm doanh nghiệp mới mà còn là tạo điều kiện để những doanh nghiệp hiện hữu lớn lên.
Với khoảng 98% doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ và vừa, khả năng thực thi Nghị quyết 68 sẽ phụ thuộc không nhỏ vào việc Luật Phát triển DNNVV có mở được đường cho khu vực đông đảo này hay không. Vốn và đất đai là hai phép thử rõ nhất.
Tên luật đã chuyển từ “Hỗ trợ” sang “Phát triển”. Điều quan trọng hơn là những doanh nghiệp nhỏ hôm nay có thêm cơ hội để trở thành những doanh nghiệp lớn hơn hay không.
