
Không ít doanh nghiệp nhỏ thì chọn giữ tiền mặt thay vì mở rộng đầu tư, bởi điều họ sợ đôi khi không hẳn là thiếu khách hàng, mà là cảm giác rủi ro và bất định mỗi khi nghĩ tới thanh tra, kiểm tra hay những thay đổi chính sách khó lường.
Trong khi đó, số doanh nghiệp mở mới hiện gần như chỉ ngang bằng số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Nhìn từ những câu chuyện rất đời như thế, khoảng cách giữa kỳ vọng rất lớn của Nghị quyết 68 với tâm trạng thực tế của nhiều người đang làm ăn ngoài thị trường bắt đầu hiện ra rõ hơn.
Một nghị quyết mang tính dấu mốc
TS Lê Minh Nghĩa, Chủ tịch Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam (VFCA), gọi Nghị quyết 68 là một nghị quyết “mang tính dấu mốc”, thậm chí có thể dùng từ “vĩ đại”, bởi theo ông, nghị quyết này tạo ra “một nhận thức mới, một động lực mới và một quyết tâm mới để đưa đất nước chuyển mạnh sang nền kinh tế thị trường hiện đại”.
Theo số liệu trong Nghị quyết 68, khu vực kinh tế tư nhân hiện có hơn 940.000 doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách và sử dụng khoảng 82% lực lượng lao động.

Nghị quyết đặt mục tiêu đến năm 2030 có 2 triệu doanh nghiệp hoạt động và hình thành những doanh nghiệp tư nhân lớn đủ sức tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Điều đó cho thấy khu vực tư nhân đang được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng quan trọng nhất của nền kinh tế trong giai đoạn tới.
Tuy nhiên, nhìn vào thực tế thị trường sau một năm thực hiện nghị quyết, khoảng cách giữa mục tiêu và khả năng thực hiện vẫn còn khá lớn.
TS Lê Minh Nghĩa cho rằng Việt Nam hiện vẫn đang thiếu doanh nghiệp nếu so với nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới. Hiện nay, Việt Nam ở mức khoảng 100 người mới có một doanh nghiệp, trong khi Singapore chỉ khoảng 10 người/doanh nghiệp và Hàn Quốc khoảng 6,6 người/doanh nghiệp.
Trong khi đó, TS Nguyễn Đình Cung, nguyên Viện trưởng CIEM, cho biết xu hướng doanh nghiệp gia nhập và rút lui khỏi thị trường đang ngày càng xấu đi. Nếu như giai đoạn trước, số doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại thị trường cao hơn nhiều lần số doanh nghiệp rút lui, thì hiện nay tỷ lệ này gần như chỉ còn xấp xỉ 1/1.
Năm 2025, có khoảng 300.000 doanh nghiệp gia nhập và tái gia nhập thị trường, nhưng đồng thời cũng có hơn 227.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Trong 4 tháng đầu năm nay, có khoảng 119.400 doanh nghiệp gia nhập và quay trở lại hoạt động, trong khi số doanh nghiệp rút lui cũng lên tới khoảng 108.900.
Nếu nhìn vào tốc độ tăng ròng, áp lực đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 là rất lớn.
Ông Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban IV, cho biết trong ba tháng đầu năm, trung bình mỗi tháng có khoảng 32.000 doanh nghiệp đăng ký mới và quay trở lại hoạt động, nhưng đồng thời cũng có khoảng 30.400 doanh nghiệp rút khỏi thị trường.
Điều đó đồng nghĩa mỗi tháng nền kinh tế chỉ tăng ròng khoảng 1.600 doanh nghiệp — một tốc độ rất khó để tiến tới mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp trong vài năm tới.
Điều doanh nghiệp chờ không chỉ là thêm nghị quyết
Ông Bùi Thanh Minh, Phó giám đốc Văn phòng Ban IV, cho rằng Nghị quyết 68 từng tạo ra một làn sóng kỳ vọng khá lớn trong cộng đồng doanh nghiệp. Tuy nhiên, theo thời gian, sự hào hứng ban đầu đang giảm dần, đặc biệt ở nhóm doanh nghiệp nhỏ và khu vực hộ kinh doanh.
“Doanh nghiệp lớn hiện vui nhiều hơn doanh nghiệp nhỏ và vừa, còn khu vực hộ kinh doanh vẫn chưa cảm nhận rõ lợi ích”, ông nói.
Theo khảo sát của Ban IV, cứ 10 doanh nghiệp thì có khoảng 7 doanh nghiệp vẫn mang tâm lý thận trọng hoặc tiêu cực về triển vọng kinh doanh. Điều đó cho thấy khoảng cách giữa tinh thần cải cách ở tầng chính sách và cảm nhận thực tế của doanh nghiệp ngoài thị trường vẫn còn khá lớn.
TS Lê Xuân Nghĩa cho rằng điều đáng lo hơn hiện nay không chỉ là số lượng doanh nghiệp, mà là xu hướng suy giảm động lực đầu tư của khu vực tư nhân. Theo ông, có giai đoạn khu vực tư nhân chiếm tới khoảng 91% tổng đầu tư của nền kinh tế, nhưng hiện nay tỷ trọng này chỉ còn khoảng 67%.

Một nền kinh tế sẽ rất khó tăng trưởng nhanh nếu khu vực tư nhân bắt đầu ngại đầu tư dài hạn, giữ tiền mặt thay vì mở rộng sản xuất hay mở thêm hoạt động kinh doanh mới.
Theo ông Nghĩa, phía sau tâm lý phòng thủ ấy là áp lực chi phí tuân thủ và cảm giác rủi ro ngày càng lớn.
Ông lấy ví dụ nhiều quán ăn hay quán phở ở đô thị hoàn toàn có thể đạt doanh thu trên 1 tỷ đồng mỗi năm, nhưng nguyên liệu đầu vào vẫn chủ yếu mua từ chợ truyền thống nên rất khó có hóa đơn đầy đủ. Điều đó khiến không ít hộ kinh doanh chọn thu hẹp quy mô, chia nhỏ doanh thu hoặc tiếp tục hoạt động dưới dạng hộ cá thể thay vì bước lên mô hình doanh nghiệp.
Đây cũng là nghịch lý khá lớn của nền kinh tế hiện nay. Việt Nam có hơn 5 triệu hộ kinh doanh — nguồn doanh nghiệp tương lai lớn nhất nếu muốn đạt mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp — nhưng rất nhiều người vẫn không muốn “lớn lên” thành doanh nghiệp.
TS Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, cho rằng Việt Nam sẽ khó đạt mục tiêu này nếu không thay đổi căn bản tư duy về mô hình doanh nghiệp.
Ông dẫn chứng, tại Singapore, khoảng một nửa số doanh nghiệp đăng ký mới mỗi năm là doanh nghiệp một chủ, mô hình rất phù hợp để người dân khởi nghiệp, thử nghiệm ý tưởng kinh doanh và mưu sinh với chi phí thấp. Trong khi đó, ở Việt Nam, số doanh nghiệp theo mô hình này vẫn còn rất ít do chưa có nền tảng pháp lý phù hợp để hỗ trợ.
Chỉ riêng việc có hơn 5 triệu hộ kinh doanh đã cho thấy người Việt không thiếu tinh thần làm ăn. Điều khiến nhiều người e ngại lại nằm ở cảm giác bước vào khu vực doanh nghiệp chính thức đồng nghĩa với thêm thủ tục, thêm chi phí và thêm rủi ro pháp lý.
“Nếu hoạt động kiểm tra thiếu tính hỗ trợ và thiên về xử lý vi phạm thì doanh nghiệp sẽ có xu hướng phòng thủ, giữ tiền mặt thay vì mở rộng đầu tư”, TS Lê Xuân Nghĩa nhận xét.
Điều đáng nói là đây cũng không phải lần đầu Việt Nam đặt ra các mục tiêu lớn về số lượng doanh nghiệp.
Nghị quyết 10 trước đây từng đặt mục tiêu có 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2020 và 1,5 triệu doanh nghiệp vào năm 2025 nhưng đều không đạt. Tuy nhiên, gần như không có cơ chế đánh giá trách nhiệm thực thi rõ ràng khi các mục tiêu này thất bại.
Có lẽ vấn đề lúc này không còn nằm ở việc thiếu nghị quyết hay thiếu quyết tâm chính trị, mà là liệu các mục tiêu ấy có đủ sức tạo ra áp lực cải cách thật sự đối với bộ máy thực thi hay không.
Sau một năm Nghị quyết 68, điều cộng đồng doanh nghiệp chờ đợi có lẽ không còn chỉ là thêm những tuyên bố khẳng định kinh tế tư nhân là động lực quan trọng của nền kinh tế.
Điều họ cần hơn là một môi trường mà doanh nghiệp có thể yên tâm mở rộng làm ăn, đầu tư dài hạn và lớn lên mà không phải luôn thấp thỏm trước thủ tục, thanh tra hay những rủi ro khó lường.
Sẽ rất khó có thêm hàng triệu doanh nghiệp mới nếu ngay cả những người đang kinh doanh hôm nay vẫn chưa thật sự thấy trở thành doanh nghiệp là một con đường an toàn để đi lâu dài.



