Đại biểu Dương Đức Hải (đoàn Hà Nội) cho rằng chỉ đôn đốc, nhắc nhở sẽ khó bảo đảm tiến độ dự án Vành đai 5 - Vùng Thủ đô.
Sáng nay, Quốc hội thảo luận tại tổ về chủ trương đầu tư dự án đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội.
Dự án có chiều dài khoảng 349km, đi qua địa bàn Hà Nội, Ninh Bình, Hưng Yên, Hải Phòng, Bắc Ninh, Thái Nguyên và Phú Thọ.
Phát biểu thảo luận về nội dung này, đại biểu Dương Đức Hải (đoàn Hà Nội) nhìn nhận, Vành đai 5 chỉ phát huy hết hiệu lực hiệu quả khi đoạn đường được khép kín. Với Hà Nội, đây là mắt xích kết nối với trục phát triển phía Tây, giảm tải cho Vành đai 4, tạo động lực cho đô thị vệ tinh của phía Tây Thủ đô.
Đại biểu Dương Đức Hải (đoàn Hà Nội). Ảnh: Như Ý
Đại biểu đề nghị, trong giai đoạn 2026-2030, cần bố trí vốn cho công tác chuẩn bị đầu tư, cắm mốc giới và từng giai đoạn giải phóng mặt bằng, tạo quỹ đất cho đoạn tuyến qua Hà Nội.
Theo tờ trình được Bộ trưởng Xây dựng Trần Hồng Minh trình bày trước Quốc hội sáng nay, sơ bộ tổng mức đầu tư khoảng 288.268 tỷ đồng, bao gồm phần tuyến chính cao tốc khoảng 215.192 tỷ đồng, thực hiện bằng ngân sách trung ương; phần đường song hành khoảng 73.076 tỷ đồng, thực hiện bằng vốn ngân sách địa phương.
Tuyến chính cao tốc quy mô 6 làn xe, tốc độ thiết kế 100-120km/h; đường song hành quy mô tối thiểu 2 làn xe, tốc độ thiết kế 60-80km/h.
Thực tiễn triển khai đường Vành đai 4 cho thấy chi phí giải phóng mặt bằng tăng rất nhanh theo thời gian. Do đó, việc thực hiện giải phóng mặt bằng dự án Vành đai 5 sớm là giải pháp tiết kiệm ngân sách hiệu quả và cần được quan tâm ngay từ đầu.
Tổng mức đầu tư sơ bộ của dự án là 288.268 tỷ đồng. Đại biểu cho rằng, cần xác định rõ cơ cấu vốn ngân sách trung ương và địa phương đối với từng dự án thành phần, cần quy định hội đồng nhân dân cấp tỉnh phải ban hành nghị quyết cam kết bố trí đủ phần vốn đối ứng trước khi phê duyệt dự án đầu tư.
Đại biểu cũng cho hay, cần quy định mốc giải ngân theo từng năm làm căn cứ theo dõi, đánh giá việc thực hiện.
Bên cạnh đó, cần có cơ chế xử lý đối với các dự án thành phần chậm tiến độ hoặc địa phương không bố trí đủ vốn theo cam kết, như điều chuyển vốn, điều chỉnh cơ quan chủ quản và báo cáo Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
“Nếu thực hiện được các nội dung trên sẽ nâng cao hiệu quả quản lý dự án. Ngược lại, nếu chỉ dừng ở việc đôn đốc, nhắc nhở thì rất khó bảo đảm tiến độ chung của toàn tuyến, nhất là với một dự án có quy mô vốn và chiều dài rất lớn”, đại biểu Dương Đức Hải nói.
Bố trí công trình phục vụ nhu cầu phát triển xe điện
Phát biểu tại tổ 8 gồm các đoàn Bắc Ninh, Cà Mau, đại biểu Quốc hội Trần Văn Lâm (đoàn Bắc Ninh) cho biết, hiện nay tất cả các địa phương khi ở trong vùng liên kết với nhau đều phải qua đầu mối là Hà Nội. Trong khi đó, Hà Nội đang là điểm nghẽn giao thông. Do đó, việc có tuyến đường vành đai sẽ tạo ra sự liên kết giữa địa phương trong khu vực này, giúp giảm tải áp lực phát triển đô thị của Hà Nội.
“Việc xây dựng đường Vành đai 5 - Vùng Thủ đô Hà Nội là cần thiết, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, mang lại giá trị bền vững lâu dài”, đại biểu cho hay.
Tuy nhiên theo ông Lâm, tiềm năng lớn nhưng thời gian triển khai dự án lại kéo quá dài sẽ tác động làm giảm hiệu quả của dự án. Do đó nên tập trung nguồn lực để đẩy nhanh tiến độ dự án, đưa công trình này sớm hoàn thiện, phát huy tính hiệu quả, chứ không phải kéo dài.
“Vấn đề bây giờ phải tính toán lại tiến độ làm sao đẩy nhanh hơn, đặc biệt có cơ chế để những địa phương có điều kiện về đích sớm. Trong quá trình thiết kế, phải tính toán các yếu tố về môi trường, cảnh quan, đặt ra tiêu chuẩn trong quá trình khai thác để thực sự hiệu quả. Đi gần đến Hà Nội đã thấy con đường, có cây xanh, cảnh quan chứ không phải các khối bê tông”, ông Lâm nói.
Ông cũng đề nghị tính toán phương án kết nối năng lượng. Bởi trong xu thế phát triển chuyển đổi năng lượng xanh rất nhanh hiện nay, các tuyến đường giao thông tới đây cũng phải phục vụ cho nhu cầu chuyển đổi, sử dụng năng lượng điện, bố trí các công trình phục vụ nhu cầu phát triển xe điện và năng lượng mới.
Đại biểu đưa ra dẫn chứng một số tuyến đường bây giờ trên thế giới đã tính toán yếu tố nạp điện dọc đường. Trong khi đó, các tuyến đường này sử dụng các khoảng không gian ở hai bên đường, dọc tuyến với chiều rộng 120m, dài hơn 300km.
Như vậy có không gian rất lớn để phát triển các nhà máy điện mặt trời trên tuyến đường này, vừa phục vụ năng lượng cho tuyến đường, vừa cung cấp vào hệ thống lưới điện quốc gia. Từ đó, ông Lâm đề xuất cần tối ưu hóa, nâng cao hiệu quả công trình, chứ không chỉ có mục tiêu giao thông. Cần có sự nghiên cứu để có định hướng chiến lược lâu dài, khai thác tối ưu hiệu quả sau khi công trình đi vào vận hành.