
Cầm cố đất nhưng thất lạc giấy tờ
Theo trình bày của bà V. (ngụ tỉnh Tây Ninh) tại Bản án sơ thẩm số 11/2023/DS-ST ngày 23/3/2023 của TAND huyện Cần Đước (nay là TAND khu vực 6 - Tây Ninh), năm 1993, do hoàn cảnh khó khăn, bà đã cầm cố thửa đất lúa 1.000m2 tại địa phương cho ông K. với giá trị 9 chỉ vàng 24k. Thửa đất này đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do bà V. đứng tên.
Theo thỏa thuận, khi nào bà V. hoàn trả vàng thì ông K. phải trả lại đất. Tuy nhiên, giấy tờ liên quan đến giao dịch này đã bị thất lạc theo thời gian.
Sau 27 năm, đến năm 2020, bà V. yêu cầu chuộc lại đất nhưng phía ông K. không đồng ý, đồng thời đưa ra điều kiện phải trả thêm 150 triệu đồng.

Tranh chấp được đưa ra hòa giải tại địa phương nhưng không thành, dẫn đến việc bà V. khởi kiện ra tòa, yêu cầu ông K. trả lại đất và bà sẽ hoàn trả 9 chỉ vàng 24k; đồng thời đề nghị tuyên vô hiệu giấy chuyển nhượng đất lúa được lập vào năm 1996.
Đối với giấy chuyển nhượng đất lập năm 1996, bà V. phủ nhận chữ ký trong giấy tờ này và đề nghị giám định; tuy nhiên, cơ quan chuyên môn từ chối do không đủ mẫu so sánh phù hợp.
Ở chiều ngược lại, ông K. cho rằng không có việc cầm cố mà thực tế là quan hệ thuê đất từ năm 1993. Đến năm 1996, bà V. đã chuyển nhượng thửa đất cho ông với giá 11 chỉ vàng 24k bằng giấy tay có chữ ký của bà V. Ông K. khẳng định việc mua bán đã hoàn tất và gia đình ông sử dụng đất ổn định từ đó đến nay.
Có cơ sở để công nhận việc chuyển nhượng đất
Sau khi xem xét toàn diện hồ sơ và lời khai của các bên, Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định không đủ căn cứ để chấp nhận hoàn toàn lập luận của bất kỳ bên nào.
Tòa tuyên không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà V. về việc công nhận hợp đồng cầm cố, đồng thời cũng không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông K. về việc tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng.
Cụ thể, Tòa sơ thẩm tuyên giấy chuyển nhượng đất lúa lập năm 1996 là vô hiệu. Trên cơ sở đó, Tòa buộc phía bà V. hoàn trả cho ông K. 11 chỉ vàng 24k cùng khoản bồi thường thiệt hại 246 triệu đồng. Ngược lại, phía ông K. có nghĩa vụ trả lại thửa đất tranh chấp cho gia đình bà V.
Không đồng ý với phán quyết trên, cả hai bên đều kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bà V. vẫn giữ quan điểm cho rằng giao dịch ban đầu chỉ là cầm cố do hoàn cảnh khó khăn, tuy nhiên không xuất trình được chứng cứ.
Trong khi đó, phía ông K. khẳng định đây là quan hệ mua bán đất hợp pháp, có giấy tay chuyển nhượng, đã giao nhận vàng và sử dụng đất ổn định từ năm 1996.
Đại diện Viện KSND nhận định yêu cầu kháng cáo của bà V. không có cơ sở do không có chứng cứ mới. Ngược lại, đối với kháng cáo của ông K., căn cứ vào giấy chuyển nhượng và quá trình sử dụng đất thực tế, có cơ sở công nhận việc chuyển nhượng đất theo quy định.
Hội đồng xét xử TAND tỉnh Long An (nay là TAND tỉnh Tây Ninh) đã chấp nhận quan điểm trên. Theo đó, Tòa phúc thẩm công nhận việc chuyển nhượng đất giữa các bên từ năm 1996 và buộc bà V. phải thực hiện thủ tục chuyển nhượng toàn bộ thửa đất cho ông K.
Đối với phần diện tích tăng thêm gần 500m2 ngoài thỏa thuận ban đầu, do không đủ điều kiện tách thửa, Tòa giao phần đất này cho ông K. tiếp tục sử dụng nhưng buộc ông hoàn trả giá trị tương ứng hơn 239 triệu đồng cho bà V. theo giá thị trường.


