Tranh chấp bắt nguồn từ khoản tiền 1 triệu đồng

Theo trình bày của bà C. (ngụ tỉnh Gia Lai), gia đình bà quản lý, sử dụng thửa đất 90,8m2 tại tỉnh Bình Định cũ, nay là tỉnh Gia Lai. Thửa đất này đã được đo đạc, thể hiện trên hệ thống bản đồ địa chính nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận.

Bà C. cho biết gia đình bà sử dụng thửa đất từ hơn 30 năm trước và từng xây dựng nhà ở tại đây. Đến năm 2010, do chính sách bố trí đất ở cho các hộ dân bị ảnh hưởng bởi thiên tai, gia đình bà được bố trí một thửa đất khác tại khu tái định cư và xây nhà mới vào năm 2014. Tuy nhiên, gia đình bà vẫn quản lý, sử dụng thửa đất cũ và Nhà nước chưa thu hồi.

Sau đó, bà N., có nhà giáp thửa đất, đưa cho vợ chồng bà C. 1 triệu đồng và đề nghị được sử dụng phần đất này. Gia đình bà C. không đồng ý chuyển nhượng. Tuy nhiên, chồng bà C. sau đó tự ý nhận số tiền trên với mục đích là cho bà N. thuê đất.

Từ đây phát sinh tranh chấp khi bà N. cho rằng 1 triệu đồng là tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng thửa đất, trong khi bà C. khẳng định đây chỉ là khoản tiền liên quan đến việc cho thuê đất.

Trước năm 2019, gia đình bà C. phát hiện vợ chồng bà G. (bà G. là em gái của bà N.) xây nhà trên thửa đất. Bà C. cho rằng việc xây dựng không được gia đình bà đồng ý nên nhiều lần gửi đơn đến chính quyền địa phương yêu cầu giải quyết.

W-Gia Lai Nguyễn Huế 4.jpg
Thửa đất 90,8m2 trở thành tâm điểm tranh chấp sau khoản tiền 1 triệu đồng giữa hai bên. Ảnh minh họa: Nguyễn Huế 

Ở chiều ngược lại, bà N. cho rằng năm 2012, bà đã nhận chuyển nhượng thửa đất từ vợ chồng bà C. Theo bà N., năm 2019, trong thời gian bà đi làm xa, vợ chồng bà G. tự xây nhà trên phần đất bà đã nhận chuyển nhượng. Bà N. sau đó đã yêu cầu vợ chồng em gái trả lại đất nhưng không được chấp thuận.

Trong khi đó, vợ chồng bà G. xác nhận đã xây dựng nhà trên đất từ năm 2018 với sự đồng ý của bà N. Hai người cho rằng gia đình đã sinh sống ổn định trên đất từ đó đến nay và không liên quan đến giao dịch giữa bà N. với gia đình bà C.

Xét xử sơ thẩm, TAND khu vực 3 - Gia Lai chấp nhận toàn bộ yêu cầu của bà C.; công nhận hộ gia đình bà C. có quyền sử dụng thửa đất 90,8m2, đồng thời buộc bà N. cùng vợ chồng bà G. trả lại đất và chấm dứt hành vi cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất của gia đình bà C.

Không đồng ý với phán quyết trên, bà N. kháng cáo, đề nghị cấp phúc thẩm hủy án sơ thẩm và công nhận quyền sử dụng thửa đất cho mình. Sau đó, vợ chồng bà G. cũng kháng cáo, đề nghị xem xét lại nhận định cho rằng họ có hành vi cản trở trái pháp luật và nghĩa vụ chịu án phí.

Hồ sơ địa chính giúp xác định quá trình sử dụng đất

Tại phiên phúc thẩm, bà N. cho rằng năm 2012 đã nhận chuyển nhượng thửa đất từ vợ chồng bà C. với giá 1 triệu đồng. Tuy nhiên, phía bà C. chỉ thừa nhận chồng bà có nhận số tiền này, nhưng đây là khoản tiền liên quan đến việc cho bà N. thuê đất, khi cần sẽ lấy lại.

TAND tỉnh Gia Lai nhận định bà N. không cung cấp được chứng cứ chứng minh đã nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, trong khi vợ chồng bà C. cũng không thừa nhận việc chuyển nhượng.

Theo xác nhận của chính quyền địa phương, thửa đất do gia đình bà C. khai hoang, quản lý và sử dụng lâu dài từ khoảng năm 1980; gia đình từng xây dựng nhà ở ổn định hơn 30 năm. Hồ sơ kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất qua các thời kỳ và bản đồ đều thể hiện tên hộ gia đình bà C., không có thay đổi. Thửa đất cũng chưa có quyết định thu hồi và phù hợp quy hoạch sử dụng đất.

Từ những căn cứ trên, TAND tỉnh Gia Lai cho rằng cấp sơ thẩm công nhận quyền sử dụng đất cho gia đình bà C. và buộc bà N. trả lại đất là có cơ sở.

Đối với vợ chồng bà G., Tòa phúc thẩm xác định hai người không có quyền sử dụng hợp pháp đối với thửa đất nhưng vẫn chiếm dụng để xây nhà, cản trở việc thực hiện quyền sử dụng đất của gia đình bà C. Vì vậy, việc buộc hai người cùng bà N. trả lại đất là có căn cứ.

Từ đó, TAND tỉnh Gia Lai không chấp nhận kháng cáo của bà N., chấp nhận một phần kháng cáo của vợ chồng bà G. và sửa một phần bản án sơ thẩm về nghĩa vụ chấm dứt hành vi cản trở, án phí và một số chi phí tố tụng. Tòa giữ nguyên việc công nhận quyền sử dụng thửa đất 90,8m2 cho hộ bà C.

(Tham khảo Bản án số 205/2026/DS-PT ngày 5/8/2026 của TAND tỉnh Gia Lai)