Những cập nhật này sẽ được chia sẻ tại Hội nghị “Những xu hướng mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú: Điểm nhấn từ GBCC 2026”, quy tụ 11 báo cáo viên đến từ Hàn Quốc và Việt Nam với 14 bài tham luận thuộc 4 phiên khoa học. Bên cạnh các nội dung chuyên sâu về phẫu thuật ung thư vú, chương trình tạo diễn đàn để các chuyên gia trong nước trao đổi trực tiếp với đồng nghiệp quốc tế về những xu hướng mới và khả năng ứng dụng vào thực hành điều trị tại Việt Nam.

Trong điều trị ung thư vú, phẫu thuật ngày càng hướng tới giảm mức độ can thiệp, bảo tồn hình thể và duy trì chất lượng sống. Xu hướng này đòi hỏi sự phối hợp giữa phẫu thuật ung thư và tạo hình, tái tạo ngay từ khâu lập kế hoạch. Theo hướng tiếp cận đó, PGS.TS.BS Nguyễn Đình Tùng, Trưởng khoa Phẫu thuật Tạo hình Thẩm mỹ, Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh sẽ cập nhật ba kỹ thuật gồm tái tạo vú tức thì, ghép mỡ tự thân kết hợp phân đoạn mô đệm mạch máu (SVF) và xạ trị trong mổ (IORT).

PGS.TS.BS Nguyễn Đình Tùng có nhiều năm kinh nghiệm chuyên sâu trong Ngoại khoa - Ung bướu và phẫu thuật tạo hình, đặc biệt ở lĩnh vực điều trị và phục hồi tuyến vú. Ông là một trong những người tiên phong trong tái tạo vú và ứng dụng thành công vạt TRAM tại Việt Nam.

Từ thực tiễn điều trị, các kỹ thuật này đang phát triển theo nhiều hướng, từ phục hồi hình thể, cải thiện chất lượng mô đến tích hợp điều trị tại chỗ trong phẫu thuật.

ẢNH 1 (1).png
PGS.TS.BS Nguyễn Đình Tùng trực tiếp thực hiện ca phẫu thuật tại BVĐK Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh

Phẫu thuật ung thư vú ở cấp độ tích hợp đa kỹ thuật 

Với tái tạo vú tức thì, quá trình phục hồi hình thể được thực hiện ngay trong cùng cuộc phẫu thuật điều trị ung thư, thay vì chờ một cuộc mổ lớn ở giai đoạn sau. Cách tiếp cận này giúp người bệnh sớm lấy lại hình dáng và giảm tác động tâm lý do thay đổi cơ thể.

Tuy nhiên, phương án tái tạo cần được tính toán từ trước phẫu thuật, dựa trên phạm vi tổn thương, đặc điểm người bệnh và kế hoạch điều trị tiếp theo nhằm bảo đảm kiểm soát ung thư và lựa chọn phương án phù hợp.

Một hướng tiếp cận được PGS.TS.BS Nguyễn Đình Tùng lần đầu tiên cập nhật tại hội nghị khoa học ở Việt Nam là ghép mỡ tự thân kết hợp phân đoạn mô đệm mạch máu (SVF). SVF được phân lập từ mô mỡ của người bệnh, phối hợp với mỡ tự thân trước khi ghép trở lại vùng cần tái tạo. Kỹ thuật này, còn gọi là cell-assisted lipotransfer (CAL), nhằm cải thiện chất lượng mô và duy trì thể tích sau phẫu thuật.

Bên cạnh phục hồi hình thể, phẫu thuật ung thư vú hiện đại còn hướng tới tăng khả năng kiểm soát điều trị ngay trong cuộc mổ. Xạ trị trong mổ (IORT) là một trong những hướng tiếp cận này, cho phép đưa tia xạ trực tiếp tới vùng mô đích sau khi loại bỏ tổn thương, giúp tập trung điều trị tại chỗ ở những người bệnh phù hợp.

Việc triển khai IORT cần sự phối hợp giữa nhiều chuyên khoa, từ phẫu thuật, xạ trị đến chẩn đoán hình ảnh và giải phẫu bệnh.Việc đánh giá đúng đặc điểm khối u, nguy cơ tái phát và kế hoạch điều trị bổ trợ là cơ sở để lựa chọn người bệnh cũng như xác định phạm vi điều trị.

Những kỹ thuật trên cho thấy phẫu thuật ung thư vú đang hướng tới giảm can thiệp khi phù hợp, đồng thời tăng độ chính xác và tính cá thể hóa. Đây cũng là nội dung được nhiều chuyên gia quốc tế tập trung tại Hội nghị “Những xu hướng mới trong chẩn đoán và điều trị ung thư vú: Điểm nhấn từ GBCC 2026”, diễn ra ngày 3/10 tại Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh.

ẢNH 2 (1).png
PGS.TS.BS Nguyễn Đình Tùng sẽ trình bày báo cáo “Những tiến bộ trong điều trị Phẫu thuật Ung thư Vú tại Việt Nam”

Những thay đổi trong phẫu thuật ung thư vú

Nếu báo cáo của PGS.TS.BS Nguyễn Đình Tùng tập trung vào sự kết hợp giữa phẫu thuật ung thư vú và tái tạo, thì các chuyên gia đến từ Hàn Quốc sẽ đi sâu vào một câu hỏi khác: có thể giảm mức độ phẫu thuật đến đâu mà vẫn đảm bảo hiệu quả điều trị. 

Trong cùng phiên báo cáo, GS.TS.BS Jeong Eon Lee - Chủ tịch GBCC, Chủ tịch Ban Quản trị Hội Ung thư Vú Hàn Quốc sẽ phân tích xu hướng thay đổi trong phẫu thuật hạch nách ở người bệnh ung thư vú có hạch dương tính. Trước đây, vét hạch nách thường được sử dụng rộng rãi để đánh giá và kiểm soát tình trạng di căn hạch. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay là giảm mức độ can thiệp ở những trường hợp phù hợp, qua đó hạn chế biến chứng như phù tay và ảnh hưởng đến vận động vai sau phẫu thuật. 

ẢNH 3.png
GS.TS.BS Jeong Eon Lee sẽ trình bày về phẫu thuật hạch nách trong điều trị ung thư vú có hạch dương tính

Đi sâu hơn vào vấn đề này, PGS.TS.BS Soong June Bae, Bệnh viện Gangnam Severance, sẽ đề cập khả năng không thực hiện sinh thiết hạch lính gác ở một số người bệnh nguy cơ thấp và lấy các hạch đã được đánh dấu thay cho vét hạch toàn bộ ở những trường hợp đáp ứng tốt với hóa trị tiền phẫu.

Sự thay đổi trong tư duy phẫu thuật cũng được mở rộng sang phạm vi can thiệp trên tuyến vú. PGS.TS.BS Sang Yull Kang, Bệnh viện Đại học Quốc gia Jeonbuk, sẽ phân tích khả năng thu hẹp phạm vi phẫu thuật ở một số người bệnh có khối u đáp ứng hoàn toàn sau điều trị trước phẫu thuật. 

Từ giảm mức độ can thiệp hạch nách đến cân nhắc phạm vi phẫu thuật vú phù hợp, các báo cáo cho thấy phẫu thuật ung thư vú đang ngày càng được cá thể hóa dựa trên đặc điểm bệnh và đáp ứng điều trị của từng người bệnh. Khi kết hợp với các kỹ thuật tái tạo, mục tiêu của phẫu thuật không chỉ là kiểm soát tổn thương mà còn hạn chế những ảnh hưởng không cần thiết đến hình thể và chất lượng sống.

(Nguồn: Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc - Phúc Trường Minh)