
Ngày 20/4, Bộ Nông nghiệp và Môi trường tổ chức họp báo thông tin về Hội nghị khoa học, công nghệ thủy sản và kiểm ngư toàn quốc năm 2026.
Tại họp báo, ông Nguyễn Hữu Ninh, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học và Công nghệ (Bộ Nông nghiệp và Môi trường), cho biết, năm 2025 sản lượng thủy sản của Việt Nam đạt gần 10 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD. Kết quả này đưa Việt Nam lên vị trí thứ tư thế giới về sản lượng và thứ ba về giá trị xuất khẩu.
Ngành hiện tạo sinh kế cho hơn 4 triệu lao động, giữ vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế biển và bảo đảm chủ quyền quốc gia trên biển.
Giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư đã triển khai 113 nhiệm vụ khoa học, công nghệ, trong đó 60 nhiệm vụ đã được nghiệm thu. Nhiều kết quả đã đi vào thực tiễn, đặc biệt trong sản xuất giống khi chủ động hơn 80% nguồn cung con giống chủ lực, với trên 95% đạt tiêu chuẩn sạch bệnh.

Các quy trình công nghệ trong nuôi trồng, chế phẩm sinh học, xử lý môi trường, phòng trị dịch bệnh, khai thác và bảo quản sau thu hoạch cũng được ứng dụng rộng rãi, phủ khoảng 90% diện tích và sản lượng. Nhờ đó, ngành duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định 4-5%/năm.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, đại diện cơ quan quản lý thẳng thắn chỉ ra nhiều “điểm nghẽn” lớn.
Ông Nguyễn Hữu Ninh cho biết, chất lượng con giống vẫn là vấn đề đáng lo ngại, đặc biệt với ngành tôm là mặt hàng xuất khẩu chủ lực.
Dù đã đầu tư đáng kể cho nghiên cứu, Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn tôm bố mẹ nhập khẩu, nhất là tôm thẻ chân trắng. Công tác chọn tạo giống trong nước còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu thị trường.
“Đây là lĩnh vực chúng ta đang đi sau, cần thay đổi cách tiếp cận, trong đó tăng cường vai trò của doanh nghiệp phối hợp với các viện, trường để nâng cao hiệu quả thương mại hóa”, ông Ninh nhấn mạnh.
Bên cạnh đó, nuôi biển, đặc biệt với các đối tượng như rong biển, được đánh giá có tiềm năng lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả. Dù sở hữu đường bờ biển dài, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu nguyên liệu do hạn chế về giống và chất lượng sản phẩm.
Thời gian tới, ngành sẽ tập trung phát triển các đối tượng nuôi chủ lực như tôm, cá tra, đồng thời mở rộng nghiên cứu các loài có giá trị kinh tế cao, phù hợp điều kiện tự nhiên. Định hướng xuyên suốt là không chạy theo sản lượng mà chuyển sang nâng cao chất lượng và giá trị gia tăng, qua đó thúc đẩy xuất khẩu bền vững.
Định hướng đến năm 2030, ngành thủy sản đặt mục tiêu đạt sản lượng 9,8 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu từ 14-16 tỷ USD, đồng thời phát triển nuôi biển theo hướng công nghiệp quy mô lớn. Tầm nhìn đến năm 2045, thủy sản tiếp tục giữ vai trò then chốt trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp và kinh tế biển, đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến sâu, thuộc nhóm 3 quốc gia hàng đầu thế giới.
Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Phùng Đức Tiến nhấn mạnh, để đạt được các mục tiêu này, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo phải được xác định là nền tảng cốt lõi, giữ vai trò then chốt trong quá trình phát triển, đúng với tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW.
Giai đoạn tới, ngành sẽ tập trung phát triển giống thủy sản sạch bệnh, tăng trưởng nhanh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học, công nghệ số; phát triển nuôi trồng thông minh; hiện đại hóa khai thác, giảm tổn thất sau thu hoạch; đồng thời thúc đẩy kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh trong thủy sản.
