Tòa án nhân dân khu vực 8, tỉnh Bắc Ninh vừa xét xử vụ án tranh chấp liên quan đến yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu và công nhận quyền sử dụng đất giữa ông A. với hai em ruột là ông T.T và ông Đ.T.

Theo nội dung vụ án, ông A. cho rằng thửa đất số 168, diện tích 331m2 (nay được tách/chỉnh lý thành hai thửa hiện trạng số 75 và 83) tại xã Phật Tích là tài sản được chính quyền địa phương giao cho vợ chồng ông vào khoảng năm 1970, thời điểm ông lập gia đình. Sau đó, vợ chồng ông xây dựng nhà ở và sinh sống ổn định trên đất.

Năm 2003, do thương em trai khó khăn về chỗ ở, ông A. cho ông T.T và ông Đ.T mượn nhà đất để ở nhờ. Tuy nhiên, theo ông A., hai người em đã tự ý phá dỡ nhà cũ, xây dựng công trình mới và chiếm giữ đất.

Ông A. nói thêm, năm 2023 và đầu năm 2024, trong quá trình hòa giải gia đình, ông đã ký vào “Bản cam kết” và “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế” tại Văn phòng công chứng H.V. Sau đó, ông mới biết nội dung các văn bản xác định thửa đất số 168 là di sản của cha mẹ để lại và được chia cho ông T.T, ông Đ.T quản lý sử dụng.

Ông khẳng định đất không phải tài sản của cha mẹ mà do UBND xã Phật Tích giao cho vợ chồng ông khi cưới nhau. Gia đình ông 7 người đã dựng nhà và sinh sống liên tục tại mảnh đất này trên 30 năm trước khi chuyển đi. Đến khi các con lập gia đình riêng, vợ chồng ông mới dọn về để chăm sóc mẹ già, cho 2 em mượn đất, nên ông yêu cầu Tòa án tuyên hai văn bản công chứng vô hiệu, đồng thời công nhận quyền sử dụng đất đối với vợ chồng ông.

Phía bị đơn, ông T.T và ông Đ.T bác bỏ toàn bộ yêu cầu khởi kiện. Theo các bị đơn, nguồn gốc thửa đất là do cha mẹ là cụ C. và cụ H. xin cấp từ năm 1970 để chia cho các con trai sau này.

W-công an hải phòng_25.JPG.jpg
Các công trình trên thửa đất tranh chấp đã được xây dựng hoàn thiện và sử dụng ổn định nhiều năm.

Năm 1988, cụ C. đã lập sơ đồ phân chia đất cho các con. Ông A. được bố mẹ cho quản lý sử dụng tạm trước khi chuyển sang ở tại nhà thờ họ. Sau đó, ông A. đã tự nguyện bàn giao lại đất cho ông Đ.T và ông T.T theo đúng di nguyện của cha.

Các bị đơn cho rằng việc lập “Bản cam kết” năm 2023 và “Văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế” năm 2024 được thực hiện hoàn toàn tự nguyện, đúng trình tự công chứng và không có sự ép buộc hay lừa dối. Đồng thời, từ năm 2010 đến nay, hai gia đình đã xây dựng nhà kiên cố, sử dụng đất công khai, ổn định mà không có tranh chấp.

Đại diện Văn phòng công chứng H.V cũng khẳng định quá trình công chứng được thực hiện đúng quy định. Hồ sơ công chứng có đầy đủ giấy tờ xác nhận nguồn gốc đất, thành viên gia đình và đã được niêm yết công khai tại địa phương theo đúng thủ tục.

Tại phiên tòa, nguyên đơn trình bày rõ căn cứ để hủy văn bản công chứng vì chính văn bản khai nhận thừa kế đã có ghi nhận hồ sơ có tài liệu do UBND xã Phật Tích tự lập và xác nhận năm 1997 về chủ sử dụng đất là hộ ông A. Do đó, Văn phòng công chứng và công chứng viên đã xác định sai nguồn gốc và chủ sử dụng đất.

Mặc dù vậy, sau khi xem xét hồ sơ, lời khai các bên và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định ông A. không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc bị ép buộc, lừa dối hoặc không làm chủ được hành vi khi ký các văn bản công chứng. Đồng thời, quá trình sử dụng đất của ông T.T và ông Đ.T diễn ra công khai, liên tục nhiều năm, phù hợp với thực tế quản lý đất đai tại địa phương.

Tòa án xác định hai văn bản công chứng được lập đúng quy định, có hiệu lực pháp lý. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông A. về việc tuyên bố các văn bản công chứng vô hiệu và yêu cầu công nhận quyền sử dụng đất.

Ngược lại, Tòa chấp nhận yêu cầu phản tố của các bị đơn về việc công nhận quyền quản lý, sử dụng đất theo hiện trạng đối với hai thửa đất 75 và 83 tại xã Phật Tích cho hai bị đơn quản lý, sử dụng theo thực tế hiện nay.

Sau khi Tòa án cấp sơ thẩm bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện, ông A. cho biết chưa đồng tình với phán quyết của Hội đồng xét xử và sẽ tiếp tục thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật để đề nghị cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ vụ án.